Thursday, 29 May 2014

Sa Di Luật Nghi

HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.29/5/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Monday, 19 May 2014

Tìm Hiểu Ý Nghĩa Từ Bhikkhu (Tỳ Kheo)
TKN. Như Liên
Từ Bhikkhu (tiếng Sankrit bhikṣu), xuất phát từ bhikṣ, nghĩa là “người khất thực” (khất sĩ 乞士, khất sĩ nam 乞士男), người sống bằng của bố thí tìm cầu chân lý giải thoát. Một thành viên của Tăng đoàn; người từ bỏ cuộc sống thế tục, thọ lãnh giới luật; một vị tu sĩ Phật giáo được thọ giới tỳ kheo, giữ 227 giới, cạo đầu mặc  y vàng sống nhờ vào thực phẩm khất thực mà vị đó ít nhất 20 tuổi, thì mới được gọi là bhikkhu. “Tu sĩ” hay “khất sĩ” có thể được gọi như là từ tương đương gần nhất cho “bhikkhu”. Theo từ điển Wikiphatgiao[1] bhikkhu được phiên âm tiếng Hán là 比丘, tỳ kheo, tỳ khưu hay tỷ kheo, cách phiên âm Hán-Việt khác là Bật-sô (zh. 苾芻, 苾蒭), Bị-sô (zh. 備芻, 備芻), Tỉ-hô (zh. 比呼), và cách dịch ý Hán-Việt khác là Trừ sĩ (zh. 除士), Huân sĩ (zh. 薰士), Phá phiền não (zh. 破煩惱), Trừ cận (zh. 除饉), Bố ma (怖魔).
Luận giải kinh Kim cương của Đại sư Tông Mật định nghĩa về thuật ngữ tỳ kheo: 1) Bố ma (zh. 怖魔): “mối lo sợ của ma quỷ”; 2) Khất sĩ (zh. 乞士); “sống bằng hạnh khất thực”; 3) Tịnh giới (zh. 淨戒): “giới luật thanh tịnh”.
Bhikkhu còn có nghĩa là những người cố gắng tu trì giới, định, huệ để giải thoát. Nghĩa đen của nó có nghĩa là “người đi xin” hay là người sống vào nhờ khất thực, nhưng các tỳ kheo thì không đi xin mà họ đứng tại cửa (nhà của thí chủ) một cách im lặng để nhận của bố thí. Họ sống bằng vật dụng mà những thí chủ cung cấp cho họ một cách tự nhiên hay xuất phát từ niềm tin.Vị ấy không có lời nguyện nào cho cuộc đời, nhưng  bị ràng buộc bởi giới luật đã tự ý mình thọ và tự mình chấp nhận cuộc sống nghèo nàn và độc thân. Nếu vị ấy không thể sống cuộc đời phạm hạnh thì có thể xả y bất cứ lúc nào. 
Có một vài ngữ nguyên có tính trượng trưng của từ bhikkhu[2], mà chúng ta có thể bắt gặp trong Chú giải như  sau:
(a) bhikkhu = bhinnakilesa “người đã phá những tỳ vết hay phiền não)[3] (b) Một sự giải  thích khác rõ ràng hơn là[4]  “sự phá hủy hay hủy diệt của 7 phiền não dẫn đến tái sinh, bao gồm tà kiến (sakkāyadiṭṭhi), hoài nghi (vicikicchā), giới cấm thủ (sīlabbata-parāmāsa), tham ái (rāga), sân hận (dosa), si mê (moha), ngã mạn (māna)”.[5] (c) Trong cách giải thích  a & b thì âm đầu tiên  bhi(–kkhu) liên quan đến bhid, trong định nghĩa c này thì bhi được chỉ cho gốc bhī (sợ hãi), hay xa hơn nữa nó liên quan đến động từ īkṣ (to see – thấy), vì vậy trong Thanh Tịnh Đạo (chươngI,7) Ngài Buddhaghosa định nghĩa bhikkhu, Tỳ kheo là “kẻ thấy sự khủng khiếp trong vòng luân hồi sinh tử” (Bhayaṃ ikkhatīti: bhikkhu) (saṃsāre bhayaṃ ikkhaṇatāya vā bhinna–paṭa–dharaditāya vā)[6] . Vì vậy vị ấy tìm đến sự thọ giới để thoát ra khỏi vòng sinh tử đó, điều này được chứng minh trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada):
Chỉ khất thực nhờ người,
Ðâu phải là tỷ kheo!
Phải theo pháp toàn diện,
Khất sĩ không, không đủ
Ai vượt qua thiện ác,
Chuyên sống đời Phạm Hạnh,
Sống thẩm sát ở đời,
Mới xứng danh tỷ kheo.[7]
Như vậy từ “bhikkhu” liên quan đến những nguy hiểm của sự tái sanh. Đối với một cư sĩ thật không dễ dàng mà tuân giữ đầy đủ những giới luật, dấn thân vào việc tu học hay phát triển thiền định. Còn đối với một vị tỳ kheo, sau khi cạo tóc đắp y cà sa, không có nhu cầu cho sự thẩm mỹ  nữa, nhờ vậy, vị ấy được nhẹ nhàng thảnh thơi trong tâm. Khi đi khất thực từ nhà này đến nhà khác vị ấy nhận lấy của bố thí chỉ vừa đủ cho buổi ăn sáng để giúp vị ấy có thể thực hiện việc tham thiền.
Hiển nhiên, một muỗng cơm không phải là một gánh nặng cho thí chủ, vị ấy bằng lòng với bất cứ thức ăn gì mà vị ấy nhận, dù tốt hay xấu, như vậy vị ấy cảm thấy không có sự tham đối với thức ăn. Khất thực xong vị ấy ngồi dưới bóng cây để dùng vật thực. Vật thực, y áo, chỗ ở, là những nhu cầu căn bản nhất của con người thì lại không thật quan trọng trong cuộc đời của một tỳ kheo. Một vị tỳ kheo không có chăm lo nhiều cho lạc thú thân thể. Vị ấy cố gắng thoát khỏi sự nô lệ vào thân thể mình, vì mục đích tối hậu của vị ấy là để giảm bớt và thoát khỏi tái sanh trong vòng luân hồi. Hiển nhiên, cuộc đời ẩn sĩ của một vị tỳ kheo là câu trả lời cho câu hỏi, “ý nghĩa của sự thanh bình và hạnh phúc là gì?”
Một định nghĩa có tính tổng hợp của thuật ngữ “bhikkhu” được tìm thấy trong Bộ  Phân Tích trong đó tình trạng của một tỳ kheo được thiết lập trên nền tảng của 18 đức tính[8]. Có thể tạm tóm tắt “bhikkhu” có các ý nghĩa như sau: tỳ kheo do ấn định, tỳ kheo do tự nhận, hạnh khất thực gọi là tỳ kheo, người khất thực gọi là tỳ kheo, người chấp nhận hạnh khất thực gọi là tỳ kheo, người mang vải cắt manh gọi là tỳ kheo, người đang cắt trừ các ác bất thiện pháp gọi là tỳ kheo, do từ bỏ phiền não từng phần gọi là tỳ kheo, do từ bỏ phiền não không riêng phần gọi là tỳ kheo, có tỳ kheo bậc hữu học, bậc vô học, có tỳ kheo phi hữu học phi vô học, có tỳ kheo hạng thượng thủ, có tỳ kheo hạng hiền thiện, có tỳ kheo hạng tinh khiết, có tỳ kheo hạng pháp lõi, có hạng đắc giới do đúng điều kiện nhất định bằng hành sự tứ tác tuyên ngôn có chúng tăng hòa hợp, gọi là tỳ kheo.”
Hai loại tỳ kheo (bhikkhu) được phân biệt trong kinh điển, là kalyāṇa[ka]puthujjana (một phàm phu có đức tính tốt)  và sekkha (bậc thánh hữu học (người đang được huấn luyện), tức là ba bực Thánh đầu: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm và A Na Hàm).[9]
Theo hạ lạp, có ba loại tỳ kheo[10]: (a)  Therabhikkhu, bậc trưởng lão, là bhikkhu đã trải qua 10 năm hay hơn trong Tăng chúng (tuổi hạ). Vị tỳ kheo này có thể trở thành một vị thầy truyền giới hay cho thọ giới tỳ kheo (Upajjaya hay ācariya); (b) Majjhimabhikkhu là những vị bậc trung có tuổi hạ từ năm năm đến chín năm. (c) Navabhikkhu là những vị vừa mới được chấp nhận trong Tăng chúng (upasampadā) hay được gọi một vị tỳ kheo mới tức là ít hơn năm năm.
Bhikkhunī (Pāli)  xuất phát từ “bhikkhu” và tiếp vĩ ngữ “” chỉ cho nữ tính, hay bhikṣuṇī (Sanskrit), nghĩa là một vị nữ đi bát, một khất sĩ nữ, một ni cô Phật giáo, một thành viên của Ni đoàn, vị tỳ kheo ni. Bhikkhuni Sangha (Ni đoàn) được thành lập từ khi Bà di mẫu Kiều Đàm Di, Mahāpajāpati Gotamī, dì và kế mẫu của Đức Phật được Đức Phật cho phép xuất gia. Bhikkhunī phải tuân giữ 311 điều luật, nhiều hơn những điều luật của tỳ kheo. Tỳ kheo ni cũng có được những quyền mà các tỳ kheo có. Họ cũng có thể vui hưởng sự an lạc của Đạo và Quả. 
Theo kinh điển cả hai bhikkhu (tỳ kheo) và bhikkhuni (tỳ kheo ni) đều sống và thực hành theo giới  luật của Đức Phật đã chế định, những giới luật này được gọi là Pātimokkha hay giới bổn, (mokkheti, vì nó giải thoát; pàti, người hộ trì nó) vì nó làm cho vị ấy thoát khỏi các khổ của đoạ xứ tức là bằng cách chế ngự  thân, khẩu, ý và chánh niệm trong bốn oai nghi (Thanh Tịnh Đạo chương I, 43). Vị ấy phải nhiệt tâm bằng nghị lực kiên trì và thận trọng  bằng hành vi đầy giác tỉnh với tuệ quán. Cuộc đời của họ sống đơn giản chuyên cần an trú trong giới, tu tập phát triển thiền Chỉ (Ðịnh) và thiền Quán (Tuệ). Hành thiền là đạo lộ đưa vị  ấy đến thanh tịnh và chứng ngộ Niết Bàn. Thực hiện điều đó mới xứng đáng sự cúng dường tối thượng của thế gian và chư thiên.
Tỳ kheo có trí tuệ,
Thường phòng hộ các căn,
Tri túc, giữ giới bổn,
Thân cận các bạn lành,
Sống nổ lực tinh tấn,
Hợp chánh mạng cao thành. [11].HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.20/5/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Saturday, 17 May 2014

CHƯƠNG II - HẠNH ÐẦU ÐÀ (KHỔ HẠNH)
Dhutanga-niddesa
A. SỐ LƯỢNG CÁC PHÁP KHỔ HẠNH
Khi một Thiền giả theo đuổi con đường giới luật, quyết tâm kiện toàn các đức tính ít muốn, biết đủ, viễn ly, độc cư, tinh cần v.v.. Mong đạt đến đạo quả giải thoát, đức Thế tôn cho phép thực hành 13 pháp Khổ hạnh sau đây:
1. Hạnh mặc y phấn tảo.
2. Hạnh chỉ mặc 3 y.
3. Hạnh sống bằng khất thực.
4. Hạnh khất thực theo thứ lớp.
5. Hạnh nhất tọa thực.
6. Hạnh chỉ ăn một bát.
7. Hạnh không ăn đồ dư tàn.
8. Hạnh ở rừng.
9. Hạnh ở gốc cây.
10. Hạnh ở giữa trời.
11. Hạnh ở nghĩa địa.
12. Hạnh nghỉ chỗ nào cũng được.
13. Hạnh ngồi không nằm.
B. Ý NGHĨA CÁC PHÁP KHỔ HẠNH
Các pháp khổ hạnh trên được bộ luận nầy định nghĩa như sau:
1. Hạnh mặc y phấn tảo: Phấn tảo (pamsukùla: bụi bặm): Loại vải bị vứt bỏ ở những đống rác bên đường, nghĩa địa, hay những đống phân. Một người đã thọ giới nầy chỉ mặc một y trong những loại sau: Vải lấy từ nghĩa địa; từ cửa hàng; từ đường cái; từ hố phân; từ giường trẻ; vải tẩy uế; vải từ chỗ tắm; vải bị cháy; bị gia súc ăn; bị kiến ăn; bị chuột ăn; vải rách ở biên; rách ở đầu; vải làm cờ; vải bỏ tại điện thờ; y của nhà khổ hạnh; vải từ cuộc lễ; vải do thần thông biến hóa (tức tấm y do pháp Phật biến hóa lúc Ngài nói "Thiện lai Tỳ kheo", thì pháp phục tự nhiên xuất hiện trên vị nầy, nhờ công đức đời trước của thầy); vải trên xa lộ; vải gió bay; vải do thiên thần bố thí; vải trôi giữa biển.
2. Hạnh chỉ mặc 3 y: Ðó là y Tăng già lê, thượng y và hạ y.
3. Hạnh sống bằng khất thực: Chỉ nhận thức ăn do đi khất thực mà được.
4. Hạnh khất thực theo thứ lớp: Ði từ nhà nầy đến nhà khác, không chừa một nhà nào ở khoảng giữa.
5. Hạnh nhất tọa thực: Ăn một lần mà thôi, đứng lên rồi, không ngồi xuống ăn lại.
6. Hạnh chỉ ăn một bát: Chỉ ăn những gì đã xin được trong bát, không nhận thêm bát thứ hai
7. Hạnh không ăn đồ dư tàn: Không ăn đồ ăn thừa, và không nhận đồ ăn sau khi ăn xong.
8. Hạnh ở rừng: Vị nầy chỉ sống trong rừng.
9. Hạnh ở gốc cây: Vị nầy chỉ sống dưới gốc cây.
10. Hạnh ở giữa trời: Vị nầy chỉ sống ở ngoài trời
11. Hạnh ở nghĩa địa: Vị nầy chỉ sống tại các nghĩa địa.
12. Hạnh nghỉ chỗ nào cũng được: Ai phân phối cho mình chỗ nào cũng đều chấp nhận.
13. Hạnh ngồi không nằm: Khi ngủ cũng ngồi chứ không nằm.
C. PHƯƠNG PHÁP THỌ TRÌ, CẤP BẬC VÀ LỢI ÍCH
* 1. Hạnh mặc phấn tảo y:
a. Cách thức thọ trì: Người thọ trì hạnh nầy nói lên một trong 2 lời nguyện như sau: "Tôi nguyện giữ khổ hạnh phấn tảo y" hoặc "Tôi từ chối những y do gia chủ cúng dường".
b. Gồm 3 cấp bậc: -Cấp thượng: giữ một cách nghiêm ngặt, chỉ lượm vải ở nghĩa địa về làm y. Cấp trung: giữ một cách trung bình, lượm vải do người khác bỏ. Cấp hạ: lượm vải do một Tỳ kheo khác cho mình bằng cách đặt dưới chân.
c. Lợi ích: Vị nầy không đau khổ do phải giữ gìn y phục; sống không tuỳ thuộc vào người khác; không sợ trộm cướp; không có sự thèm muốn đối với y phục. Vì những vải ấy dễ kiếm, ít giá trị; nhờ đó sẽ phát sinh kết quả ít muốn, biết đủ và tinh tấn tu tập.
* 2. Hạnh 3 y:
a. Cách thức thọ trì: Giới nầy được thọ trì bằng cách nói: "Tôi giữ giới mặc 3 y" hoặc "Tôi không nhận cái y thứ tư".
b. Các cấp bậc: Cấp thượng: khi nhuộm phải nhuộm từng cái, nhuộm xong thay cái khác để nhuộm tiếp. Cấp trung: Khi nhuộm có thể dùng một miếng vải vàng thay cái y nầy để nhuộm. Cấp hạ: Có thể mượn y của Tỳ kheo khác mặc để nhuộm.
c. Lợi ích: Vị nầy đi đâu cũng chỉ mang theo 3 y như chim mang đôi cánh, không tích trữ, sống đạm bạc, từ bỏ tánh tham y phục, sống viễn ly.
* 3. Hạnh khất thực:
a. Cách thức thọ trì: Giới nầy được thọ trì bằng cách nói: "Tôi thọ trì hạnh khất thực hằng ngày", hoặc "Tôi không nhận đồ ăn để dành (tàn thực)". Người đã thọ giới nầy không được nhận 14 thứ thực phẩm sau đây: bữa ăn do cư sĩ cúng dường cho chư Tăng; bữa ăn cúng cho một số Tỳ kheo đặc biệt; bữa ăn do người ta mời; bữa ăn được mời bằng một phiếu ăn; bữa ăn vào ngày lễ trai giới Uposatha; bữa ăn vào ngày rằm; bữa ăn vào ngày đầu tháng; bữa ăn dành cho khách; bữa ăn cho kẻ lữ hành; bữa ăn cho người bệnh; bữa ăn cho kẻ nuôi bệnh; bữa ăn cúng cho một trú xứ nào đó; bữa ăn được bố thí tại một ngôi nhà chính (dhurabhatta); bữa ăn cúng theo thứ tự.
b. Ba cấp bậc: Cấp thượng, nhận đồ ăn do người ta đem đến trước mặt và sau lưng (đi qua rồi thí chủ mới chạy theo cúng). Cấp trung, có thể ngồi chờ người ta mang đồ ăn đến. Cấp hạ, có thể ăn đồ ăn được hứa mang đến hôm sau và hôm sau nữa.
c. Lợi ích: Sự sống không lệ thuộc vào kẻ khác; sự phóng dật được trừ khử, mạng sống được thanh tịnh; thực hành các học pháp dễ đạt được kết quả.
* 4. Hạnh khất thực theo thứ lớp:
a. Cách thức thọ trì: Thọ trì hạnh nầy bằng cách phát nguyện: "Tôi theo hạnh khất thực tuần tự", hoặc "Tôi không khất thực bằng cách lựa chọn"
b. Ba cấp bậc: Cấp thượng: Không nhận đồ ăn mang đến từ trước mặt hoặc từ sau lưng. Cấp trung: Có thể nhận đồ ăn đem đến từ trước mặt, hoặc từ sau lưng. Cấp hạ: Ngồi đợi đồ ăn mang đến nội ngày hôm ấy.
c. Lợi ích: Vị nầy từ bỏ sự quyến luyến đối với các gia đình; có lòng từ mẫn một cách bình đẳng; tránh được sự ràng buộc bởi một gia đình
* 5. Hạnh nhất tọa thực.
a. Cách thức thọ trì: Hạnh nầy được thọ trì bằng cách lập nguyện: "Tôi nguyện theo hạnh nhất tọa thực", hoặc "Tôi không ăn nhiều lần".
b. Ba cấp bậc: Cấp thượng: Không được ăn nhiều hơn những gì mình đã lấy một lần vào bát. Cấp trung: lúc đang ăn có thể nhận thêm thức ăn bỏ vào bát. Cấp hạ: Có thể ăn đến lúc rời chỗ mới thôi.
c. Lợi ích: Vị nầy ít bệnh, ít não, thân thể nhẹ nhàng, có sức khỏe, có một đời sống hạnh phúc, loại trừ được lòng tham vị ngon và sống thiểu dục tri túc.
* 6. Hạnh ăn một bát.
a. Cách thức thọ trì: Ðược thọ trì bằng cách phát nguyện: "Tôi giữ hạnh ăn một bát", hoặc "Tôi từ chối ăn bát thứ hai".
b. Ba cấp bực: Cấp thượng: Không được ném bỏ thức ăn không vừa ý, trừ xác mía. Cấp trung: được bẻ nhỏ đồ ăn trong khi ăn. Cấp hạ: được bẻ nhỏ thức ăn bằng tay hoặc bằng răng.
c. Lợi ích: Lòng tham vị ngon được đoạn trừ; mong cầu thái quá được từ bỏ; thấy rõ mục đích và lượng thức ăn vừa đủ.
* 7. Hạnh không ăn đồ dư tàn:
a. Cách thức thọ trì: Người thọ hạnh nầy phát nguyện: " Tôi thọ giới không ăn tàn thực", hoặc "Tôi từ chối đồ ăn thêm".
b. Ba cấp bậc: Cấp thượng: khi đã chứng tỏ mình ăn vừa đủ thì không được nhận thêm thức ăn nữa. Cấp trung: vẫn có thể ăn thêm sau khi đã nói thôi. Cấp hạ: có thể tiếp tục ăn cho đến khi rời khỏi chỗ.
c. Lợi ích: Khỏi bị bội thực, khỏi cất giữ thức ăn, khỏi tìm kiếm thêm đồ ăn.
* 8. Hạnh ở rừng:
a. Cách thức thọ trì: Người theo hạnh nầy phát nguyện: "Tôi lập hạnh sống ở rừng", hoặc "Tôi không ở một trú xứ trong xóm làng".
b. Ba cấp bậc: Cấp thượng: Người nầy phải luôn luôn trở về rừng vào lúc bình minh. Cấp trung: có thể cư trú tại một khu làng vào 4 tháng mùa mưa. Cấp hạ: có thể ở trong làng luôn cả mùa đông.
c. Lợi ích: Tâm hành giả không bị dao động bởi những sắc pháp không thích đáng; thoát khỏi những lo âu, từ bỏ bám víu vào cõi đời và hưởng được lạc thú độc cư.
* 9. Hạnh ở gốc cây:
a. Cách thức thọ trì: Người theo hạnh nầy phát nguyện: "Tôi theo khổ hạnh ở gốc cây", hoặc "Tôi từ chối một mái nhà".
b. Ba cấp bậc: Cấp thượng: Không được phép quét dọn sạch sẽ gốc cây đã chọn. Cấp trung: có thể nhờ người nào đó quét dọn gốc cây. Cấp hạ: có thể sai những chú tiểu trong chùa quét dọn sạch sẽ, trải cát bằng phẳng xung quanh gốc cây.
c. Lợi ích: Dễ quán vô thường khi thấy lá cây luôn thay đổi, đoạn trừ được lòng tham về trú xứ, phù hợp với nếp sống ít muốn.
* 10. Hạnh ở ngoài trời:
a. Cách thức thọ trì: Ðược thọ trì bằng cách phát nguyện: " Tôi tu hạnh ở giữa trời", hoặc "Tôi từ chối mái nhà và gốc cây".
b. Ba cấp bậc: Cấp thượng: Không được ở gần một gốc cây, hang đá hay nhà, phải dùng một tấm y làm lều mà ở giữa trời. Cấp trung: Ðược ở gần một gốc cây, hang đá hay nhà. Cấp hạ: có thể ở dưới một hốc đá không có ống máng, hoặc dưới lều bằng cành cây.
c. Lợi ích: Khỏi bị những chướng ngại do chỗ trú gây ra, trừ được hôn trầm biếng nhác, sống không ràng buộc, muốn đi đâu cũng được.
* 11. Hạnh ở nghĩa địa:
a. Cách thức thọ trì: Người theo hạnh nầy phát nguyện: "Tôi lập hạnh sống tại nghĩa địa", hoặc "Tôi từ chối chỗ trú không phải nghĩa địa".
b. Ba cấp bậc: Bậc thượng: Phải sống tại những nơi luôn luôn có tử thi được thiêu đốt và tang lễ. Bậc trung: được sống tại những nơi chỉ có một trong các điều ấy. Bậc hạ: có thể sống tại một nơi chỉ có đặc tính của một nghĩa địa.
c. Lợi ích: Hành giả được sự tưởng niệm về cái chết, sống tinh tấn, tưởng bất tịnh luôn hiện tiền, tham dục biến mất, có tỉnh giác cao độ, từ bỏ 3 kiêu mạn về sự sống, tuổi trẻ và vô bệnh, chinh phục được sợ hãi khiếp đảm.
* 12. Hạnh nghỉ ở đâu cũng được:
a. Cách thức thọ trì: Ðược thọ trì bằng cách phát nguyện: "Tôi giữ hạnh nghỉ đâu cũng được", hoặc "tôi từ bỏ lòng tham đắm sàng toạ".
b. Ba cấp bậc: Bậc thượng: Không được hỏi thăm về trú xứ dành cho mình. Bậc trung: được phép hỏi, nhưng không được đi quan sát trước. Bậc hạ: được đi quan sát trước và nếu không thích có thể chọn một chỗ ở khác.
c. Lợi ích: Có thể tùy hỉ với những gì mình có được, có tâm nghĩ tưởng đến những bạn đồng phạm hạnh, từ bỏ so đo cao thấp, bỏ tâm thuận nghịch, đóng cái cửa tham muốn.
* 13. Hạnh ngồi không nằm:
a. Cách thức thọ trì: Ðược thọ trì bằng cách phát nguyện: "Tôi giữ hạnh ngồi, không nằm", hoặc "Tôi sẽ không nằm".
b. Ba cấp bậc: Bậc thượng: Không được dùng một chỗ tựa lưng hay dây vải nịt lưng. Bậc trung: được dùng bất cứ thứ nào trong những phương tiện ấy. Bậc hạ: được dùng một chỗ tựa, một băng vải, một nịt lưng, một gối dựa.
c. Lợi ích: Thói lười biếng bị cắt đứt, dễ chú tâm vào đề tài thiền quán, dễ tinh cần tinh tấn.
Nói chung phương pháp tu khổ hạnh thường có những hiệu quả tích cực, và khái quát có thể chia thành mấy hạng người sau: có người tu khổ hạnh mà không giảng về khổ hạnh; có người giảng về khổ hạnh mà không phải là người tu khổ hạnh; có người không giảng cũng không tu; có người vừa giảng vừa tu.
Pháp khổ hạnh thường đi đôi với 5 tác dụng: ít muốn, biết đủ, viễn ly, độc cư và kết quả từ các thiện pháp ấy. Ít muốn, biết đủ và viễn ly là không tham. Ðộc cư thuộc vô si. Vì khổ hạnh thích hợp cho những người nhiều tham và si.
Nếu chia theo nhóm thì pháp môn khổ hạnh nầy gồm có 8: Ba chính và năm lẻ. Ba chính là: Khất thực từng nhà, nhất tọa thực, và ở ngoài trời. Năm lẻ là: Hạnh mặc y phấn tảo, hạnh 3 y, hạnh ở rừng, hạnh ngồi và hạnh ở nghĩa địa.
Nếu chia riêng biệt thì có 13 khổ hạnh cho Tỳ kheo, 8 cho Tỳ kheo ni, 12 cho Sa di, 7 cho Sa di ni và tịnh nữ, 2 cho nam nữ cư sĩ. Như vậy, tất cả có 42 khổ hạnh.
Tỳ kheo có thể thực hiện cả 13 khổ hạnh, nhưng Tỳ kheo ni thì không được thực hành 5 pháp nầy: Hạnh ở rừng, không ăn tàn thực, hạnh ở giữa trời, ở gốc cây và ở nghĩa địa. Ðối với Sa di, chỉ trừ khổ hạnh 3 y, còn lại 12 pháp kia có thể thực hành. Ðối với Sa di ni và tịnh nữ, thực hành theo Tỳ kheo ni, chỉ trừ khổ hạnh 3 y, nên còn lại 7 khổ hạnh. Nam nữ cư sĩ thì lại thích hợp đối với 2 khổ hạnh nhất tọa thực và chỉ ăn một bát.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.17/5/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Wednesday, 7 May 2014

Kỷ năng và Phương pháp thuyết giảng.
 
Một vị giảng sư thành công là vị có kỹ năng và phương pháp.
Một vị giảng sư thành công là vị có kỹ năng và phương pháp. Với kỹ năng và phương pháp, vị giảng sư từng bước xây dựng cho mình sự tin tưởng nơi thính chúng, rèn luyện khả năng khơi gợi sự đồng cảm của thính chúng và khả năng trình bày mọi vấn đề hợp với luận lý. Vị giảng sư cần chuẩn bị cho mình một tư thế để luôn luôn thuyết phục được thính chúng đi đúng con đường của Đức Phật đã dạy hầu đem lại an lạc và hạnh phúc cho họ cũng như xây dựng một xã hội an lạc hài hòa.
Một vị giảng sư hoằng pháp phải biết kiên trì xây dựng niềm tin cho thính chúng. Ai cũng biết rằng quần chúng thường tin tưởng một người có danh tiếng, một người có thẩm quyền, một người đáng tin cậy, và một người có thái độ gần gũi. Một người đáng tin cậy được xác định là người trung thực, có giới đức, quảng đại, khoan dung, có từ tâm. Như vậy, ngay từ khi xác định mình sẽ hành đạo trên phương vị một giảng sư hoằng pháp, người tu sĩ phải bước đầu xây dựng niềm tin cho quần chúng bằng cách giữ gìn giới đức; sống trung  thực; tu tập về lòng khoan dung, sự quảng đại, và từ tâm. Việc giữ gìn và tu tập như thế ít nhất cũng mang lại uy tín của vị giảng sư hoằng pháp tương lai dưới mắt những vị đồng tu, cũng khiến các đạo tràng biết đến; và mặc dù chưa phải là người có tiếng tăm về phương diện thuyết giảng, nhưng khi đến thuyết giảng ở một hội chúng nào đó, cũng sẽ được giới thiệu như một người đáng tin cậy; và như thế, vị giảng sư mới bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp của mình cũng đã được thính chúng tiếp nhận với sự tin cậy. Lịch sử Phật giáo Việt Nam cận đại ghi nhận trường hợp các vị cao tăng như ngài Thích Đôn Hậu, ngài Thích Thiện Siêu… bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp từ lúc còn trẻ tuổi; nhưng nhờ các ngài giữ gìn phẩm hạnh cao thượng của một tu sĩ, nên ngay từ đầu, các ngài đã được giới thiệu với sự trang trọng của các vị thầy và nhờ đó, thính chúng Phật tử của các ngài đã gởi gắm niềm tin ở các ngài. Trường hợp của Pháp sư Minh Đăng Quang lại khác. Tuy ngài không được sự giới thiệu của thầy tổ nhưng chính hình ảnh nghiêm trang của ngài đã làm các Phật tử động tâm và họ đã thỉnh ngài đến giảng pháp.
Người giảng sư hoằng pháp cũng phải thể hiện thái độ gần gũi với thính chúng. Sự gần gũi ở đây là nói về phương diện thông cảm với thính chúng. Vị giảng sư cần hiểu biết về hội chúng  của mình, nắm được tâm tư nguyện vọng của số đông trong chúng, từ đó có những  lời lẽ thể hiện sự quan  tâm đến đời sống của hội chúng, nhờ vậy mà tạo được sự gần gũi về phương diện tâm lý. Trường hợp một vị giảng sư đã có tiếng tăm về phương diện học thuật chẳng hạn, thì khi giảng pháp, chắc chắn sẽ được thính chúng tin tưởng về mặt thẩm quyền học thuật. Nói chung, việc xây dựng niềm tin cho thính chúng cần được thực hành thật lâu trước khi người giảng sư thực sự bắt tay vào sự nghiệp hoằng pháp của chính mình.
Trước khi nhận lời thuyết giảng ở một hội chúng nào, vị giảng sư nên tìm hiểu cặn kẽ về thính chúng của mình để có những cách ứng xử thích hợp.
Trong quá trình giảng pháp, người giảng sư hoằng pháp cũng phải tiếp tục củng cố niềm tin của thính chúng. Vị giảng sư nên thực hiện những điều sau:
a. Đến trước giờ giảng một chút hoặc ít nhất là có mặt đúng giờ giảng. Nên có mặt trước một chút  để có thể có những trao đổi bên ngoài với một số thành viên tích cực của thính chúng. Chính những thành viên tích cực này sẽ làm cho toàn thể hội chúng có thêm tin tưởng nơi vị giảng sư.
b. Nếu được một người đã quen biết giới thiệu mình với thính chúng thì tốt. Nếu không, nên khéo léo giới thiệu một chút về bản thân sao cho những lời giới thiệu đó phù hợp với những điều mà giảng sư đã tìm hiểu được về thính chúng. Tuyệt đối không khoe khoang về kiến thức, dòng tộc, gia thế, chức vụ, tài năng.
c. Khi nói chuyện, nên sử dụng ngôn từ phù hợp với thính chúng. Với một thính chúng bình dân thì phải nói lời đơn giản dễ hiểu. Ngay cả với thính chúng trí thức, cũng nên dùng từ ngữ dễ hiểu nhưng chính xác theo kinh điển.
d. Không nên kể những câu chuyện quá riêng tư, không nên sử dụng ngôn ngữ dung tục. Việc thể hiện sự thân mật bằng những câu chuyện hài hước phải giới hạn trong phạm vi thật ngắn và thật chừng mực. Tránh những thí dụ dài dòng.
e. Nên thể hiện sự quan tâm đến thính chúng bằng những kinh nghiệm liên quan đến kinh nghiệm của thính chúng. Trong quá trình nói chuyện, cố gắng tiếp xúc bằng mắt với thính chúng. Cố gắng nhận biết càng nhiều cá nhân càng tốt ngay trong buổi gặp gỡ đầu tiên.
f. Những câu chuyện kể trong buổi nói chuyện phải thật sự có liên quan đến nội dung trình bày. Tránh lạc đề.
g. Khi cần trích dẫn, cần trích dẫn đúng và nêu được sự liên hệ với nội dung bài giảng, cố gắng nêu xuất xứ những điều trích dẫn.
h. Không nên nói quá dài. Các nghiên cứu cho thấy mọi thính chúng đều chỉ có thể chú tâm trong vòng mười lăm tới hai mươi phút; sau đó, họ sẽ bị phân tâm.
Vì thế, vị giảng sư chỉ nên nói ngắn và cố gắng tạo điều kiện cho thính chúng tham gia tích cực vào nội dung buổi thuyết giảng của mình
Sau buổi giảng pháp, vị giảng sư nên tìm cách kích thích cho thính chúng đặt câu hỏi để mình trả lời. Chính những giây phút hỏi đáp này củng cố niềm tin của thính chúng nơi các vị giảng sư.
Mỗi thính chúng luôn có những đặc điểm riêng về mặt tình cảm. Có những thính chúng thân thiện nhưng cũng có những thính chúng xa cách. Có những nhóm người dễ bị kích động dẫn tới giận dữ trong khi có những nhóm luôn giữ được bình tĩnh. Có những hội chúng rụt rè và cũng có những hội chúng tự tin. Có người thực tình muốn tu tập nhưng cũng có những người chỉ thích nghe nhiều để lòe người khác. Tóm lại, không một thính chúng nào giống hệt thính chúng nào. Không những thế, vào những thời điểm khác nhau, một thính chúng còn có những tình cảm khác nhau. Chẳng hạn, khi một nhóm người vừa đi dự một lễ tang của một người trong nhóm về thì họ sẽ có tình cảm trầm lắng khác với những người vừa tham dự một cuộc du ngoạn. Do đó, vị giảng sư hoằng pháp phải nhận biết được tình cảm chủ đạo của nhóm người nghe pháp ngày hôm đó như thế nào. Khi đã tạo được sự cảm thông với thính chúng bằng cách khéo léo khơi gợi những tình cảm tích cực của các thành viên trong hội chúng, vị giảng sư sẽ dễ dàng làm cho thính chúng chấp nhận những lập luận của mình, chia sẻ những quan điểm của mình, và hành động theo sự kêu gọi của mình.
Một điều cần lưu ý là có những tình cảm tích cực và có những tình cảm tiêu cực. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, khi tình cảm tích cực được khơi gợi thì một đám đông dễ dàng chấp nhận những lập luận thuận chiều, nhưng nếu đám đông có tình cảm tiêu cực thì họ dễ chấp nhận những  lập luận trái chiều. Khi muốn hội chúng chấp nhận những lập luận thuận chiều thì vị giảng sư nên tạo cho hội chúng một không khí vui tươi, đầm ấm, thanh thản, nhẹ nhàng và khơi gợi ở họ những tình cảm tích cực. Ví dụ, trước một hội chúng đang bừng bừng giận dữ vì có sự báng bổ Phật giáo mà vị giảng sư thấy cần giúp hội chúng nhận ra phải bình tĩnh giải quyết chứ không nên nóng nảy châm ngòi nổ, vị giảng sư nên có những mẩu chuyện vui nhẹ nhàng để khơi gợi ở họ những tình cảm khoan dung. Ngược lại, trước một hội chúng cảm thấy phấn  khởi trước những thành tựu mang tính vật chất mà vị giảng sư muốn hội chúng nhận rõ đâu là mục đích của việc hoằng pháp thì vị giảng sư cũng không nên chỉ trích sự xa xỉ khiến họ có những tình cảm tiêu cực mà nên gợi ra những hình ảnh thương tâm ở những nơi còn quá thiếu thốn để họ có được sự thương cảm và mong muốn chia sẻ.
Tóm lại, nếu vị giảng sư khéo khơi gợi tình cảm tích cực nơi thính chúng, những điều được thuyết giảng sẽ dễ được thính chúng chấp nhận. Ngược lại, nếu vị giảng sư không khéo léo mà tạo cho thính chúng có tình cảm tiêu cực, thì phản ứng của thính chúng sẽ hoàn toàn đi ngược với mong muốn của vị giảng sư.
Để khơi gợi tình cảm tích cực nơi thính chúng của mình, vị giảng sư hoằng pháp cần chú ý đến cách sử dụng ngôn từ thích hợp với những tình cảm mà mình muốn khơi gợi. Trong buổi thuyết giảng của mình, vị giảng sư nên chọn những câu chuyện thí dụ minh họa một cách thận trọng, phù hợp với chủ đề thuyết giảng nhưng có nội dung tươi vui, có tính cách gợi ý hoặc gợi sự tò mò của người nghe. Cố gắng chọn những chữ những câu mang nhiều màu sắc tình cảm thay vì trình bày một cách khô khan. Tuyệt đối tránh việc sử dụng thủ thuật để gợi những tình cảm bi thương nơi thính chúng mà phải thành thật. Lưu ý rằng giọng nói phải phù hợp với tình cảm muốn thể hiện. Có những lúc, vị giảng sư phải sử dụng điệu bộ để làm tăng hiệu quả của lời nói, nhưng cần kềm chế không được quá đà vượt khỏi tứ uy nghi của người tu sĩ. Trong quá trình thuyết giảng, vị giảng sư có thể rời khỏi bục giảng, đến gần thính chúng để tạo một sự thân mật, nhưng lưu ý không đến quá gần. Vị giảng sư nên thường xuyên tiếp xúc bằng mắt với mọi thính chúng trong giảng đường nhưng không tiếp xúc quá lâu với một người. Tốt nhất, vị giảng viên nên tiếp xúc bằng mắt với từng nhóm thính chúng trong một lúc rồi rời mắt đến nhóm khác, sao cho bao quát được toàn bộ thính chúng. Việc mời một số cá nhân phát biểu cảm nghĩ hoặc tham gia câu chuyện của vị giảng sư là điều cần thiết, nhưng chú ý không chú tâm vào một cá nhân nhất định nào.
Mọi người thường cho rằng luận lý là vấn đề khô khan và chán ngấy. Các vị giảng sư có khuynh hướng đến với hội chúng bằng những câu chuyện hấp dẫn, vui nhộn, mang  lại cho hội chúng  những tràng cười sảng khoái sẽ cho rằng việc trình bày vấn đề hợp luận lý là điều dư thừa. Thật ra, tất cả mọi người nghe đều sử dụng khả năng diễn dịch và quy nạp của họ để theo dõi một buổi giảng pháp; dù rằng họ sử dụng những khả năng đó một cách vô thức. Vì thế, các vị giảng sư hoằng pháp luôn cần trau dồi khả năng trình bày vấn đề hợp luận lý của mình. Có hai phương pháp luận lý căn bản là quy nạp và diễn dịch. Với phương pháp diễn dịch, nếu  tiên đề đúng thì kết luận luôn luôn đúng. Nhưng với phương pháp quy nạp, dù tiên đề đúng thì kết luận không phải bao giờ cũng đúng, nhưng mang lại gợi ý để phát triển xa hơn.
Để cải thiện tính cách hợp lý của điều được thuyết giảng, vị giảng sư cần lưu ý những điểm sau:
a. Làm cho vấn đề mình trình bày được thính chúng hiểu rõ. Muốn thế, vị giảng sư cần phải:
- Sử dụng ngôn ngữ trong sáng, tránh những  lối nói có tính hàn lâm, tránh những từ ngữ xa lạ với quần chúng. Trong trường hợp phải sử dụng ngôn ngữ trong kinh điển, giảng sư cần định nghĩa cụ thể từng từ trước khi áp dụng.
- Vấn đề trình bày phải hiển nhiên. Cố tránh những lối nói quá hình tượng hoặc sử dụng điển tích. Thính chúng không có thời giờ giải mã điều vị giảng sư nói; do đó, nếu giảng sư sử dụng ẩn dụ mới lạ sẽ khiến người nghe ngỡ ngàng.
- Trình bày vấn đề theo thứ tự. Đây là điều mà Đức Phật luôn nhắc nhở, rằng phải giảng pháp theo thứ lớp. Tiến trình của một bài giảng phải hợp lý, những gì là nền tảng phải được trình bày trước, những gì là dữ kiện dẫn xuất phải trình bày sau.
- Sử dụng nhiều thí dụ. Việc giải thích vấn đề một cách dài dòng thường không hiệu quả bằng việc nêu thí dụ. Thí dụ có thể lấy trong cuộc sống thường nhật.
- Áp dụng các biện pháp so sánh và ẩn dụ. Mặc dù ẩn dụ mới lạ sẽ khiến người nghe ngỡ ngàng, nhưng nếu vị giảng sư có được những ẩn dụ đặc biệt mà người nghe có thể hiểu ngay sau một thoáng suy nghĩ thì lại có tác dụng rất lớn.
b. Làm cho vấn đề mình trình bày có tính cách hợp lý. Bằng cách:
- Dựa trên nhận thức thông thường của đại chúng. Vị giảng sư nên bắt đầu nói với đại chúng bằng những kiến thức thông thường của đại chúng, là những điều mọi người vẫn tin. Từ những  kiến thức thông thường đó, vị giảng sư bắt đầu xây dựng  lập luận của mình. Bằng cách khéo léo đặt những câu hỏi về nhận thức thông thường, vị giảng sư có thể từng bước xóa bỏ những thiên kiến sai trái của đại chúng.
- Thăm dò quan điểm đại chúng bằng cách đặt câu hỏi. Trước khi đưa lập luận của mình vào, vị giảng sư nên khéo léo thăm dò quan điểm của đại chúng bằng cách nêu ra những câu hỏi thích hợp. Việc nắm vững quan điểm của đại chúng giúp vị giảng sư điều chỉnh cách lập luận của mình.
- Đề cập đến những luận điểm trái chiều trước rồi lần lượt bác bỏ chúng. Vị giảng sư có thể trình bày những luận điểm trái chiều với luận điểm của mình một cách khéo léo, sau đó, dùng lập luận của mình để bác bỏ và để đại chúng tự nêu ra luận điểm mà mình muốn đạt đến.
- Nhấn mạnh đến những vấn đề có giá trị lớn đối với đại chúng. Lưu ý rằng mọi lý luận quy nạp đều dẫn đến những kết luận không chắc chắn, trừ khi người thuyết giảng sử dụng những tiên đề hoàn hảo (Như trường hợp Đức Phật quy nạp rằng Ngài là Phật đã thành mà mọi chúng sinh đều là Phật sẽ thành), do đó, vị giảng sư nên tập trung vào những vấn đề có giá trị nhiều nhất đối với thính chúng, thay vì nói lan man vào những vấn đề không đúng trọng tâm.
c. Làm cho vấn đề mình trình bày là thật. Với những biện pháp sau:
- Sử dụng nhiều sự thật để chứng minh cho luận điểm của mình. Chọn những sự thật được nhiều người biết đến trong cuộc sống hàng ngày, trong lịch sử… Đưa ra những chi tiết sinh động  liên quan đến luận điểm của mình.
- Sử dụng các dữ kiện và con số thống kê. Trong một số trường hợp, vị giảng sư có thể chuẩn bị sẵn những dữ kiện thật và những con số thống kê
- Dẫn chứng từ các nguồn tham khảo. Vị giảng sư cần có hiểu biết rộng về các nguồn tham khảo và đưa vào bài giảng một cách hợp lý. Lưu ý, nguồn tham khảo nên là những nguồn mà thính chúng dễ tiếp cận.
Ngoài ra, một vị giảng sư còn cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước từng buổi giảng. Vị giảng sư cần phải tìm hiểu về thành  phần của thính chúng, phải biết tổ chức về mặt thời gian, phải xây dựng bài giảng trên cơ sở có sự liền lạc của chủ đề, nếu là bài giảng trong một khóa giảng thì mỗi chủ đề phải có sự liền lạc với chủ đề trước đó và chủ đề tiếp theo, phải thể hiện các bài giảng khác nhau theo những hình thức thuyết giảng đa dạng để tránh sự nhàm chán nơi thính chúng… Hình thức thuyết giảng cần thích hợp với nội dung bài giảng.
Bài giảng mang tính cách miêu tả là hình thức bài giảng truyền thống, trong đó chủ đề chính được chia thành những chủ điểm rồi mỗi chủ điểm lại được triển khai thành những chi tiết. Với loại bài giảng này, vị giảng sư có thể trình bày những khái niệm rộng lớn. Chẳng hạn, khi giảng về Tứ diệu đế, giảng sư đưa ra bốn sự thật cao quý, sau đó nói đến từng sự thật một, rồi ở mỗi sự thật lại triển khai những ý chi tiết… Tuy nhiên, trong hình thức bài giảng loại này, thính chúng dễ bị đưa đến địa vị hoàn toàn thụ động.
Bài giảng mang tính cách tương tác là bài giảng đòi hỏi người nghe phải động não và tham gia tích cực vào buổi thuyết giảng. Thí dụ, cũng nói về Tứ diệu đế, nhưng vị giảng sư lại yêu cầu thính chúng mô tả đời sống con người, từng bước rút ra kết luận tạm rằng đời sống con người là vô thường, là thường  xuyên biến đổi, là không lúc nào toại ý… để dẫn đến kết luận cụ thể hơn về khổ đế; từ đó đưa đến các khái niệm tập đế, diệt đế và đạo đế. Trong hình thức bài giảng này, thật ra vị giảng sư phải chuẩn bị nhiều hơn để có thể khuyến dụ thính chúng đóng góp ý kiến của họ trong quá trình tiến hành bài giảng.
Bài giảng mang tính cách giải quyết vấn đề là hình thức nêu ra một trường hợp cụ thể cần giải quyết để các học viên đóng góp ý kiến giải quyết. Chẳng hạn, khi nói về bố thí ba-la-mật, vị giảng sư có thể nêu ra những trường hợp làm từ thiện để đánh bóng  tên tuổi người làm từ thiện, sau đó, gợi ý để thính chúng  đi đến kết luận là phải bố thí theo bố thí ba-la-mật, sao cho tay phải cho mà tay trái không biết, sao cho không thấy có người cho, có người nhận mà chỉ thấy có sự kiện chia sẻ đem lại sự an ủi cho cuộc sống. Hình thức bài giảng này cũng đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng của vị giảng sư.
Bài giảng không đi đến kết luận là hình thức bài giảng mà vị giảng sư không đưa ra kết luận áp đặt của mình. Ví dụ, khi bình luận về việc khắc họa kinh Pháp Hoa trên đá hoa cương để được ghi nhận kỷ lục Phật giáo, vị giảng sư chỉ trình bày sự kiện rồi khéo léo gợi ý để thính chúng đưa ra những quan điểm của riêng mình. Sau đó, vị giảng sư không đưa ra một kết luận chính thức nào mà cứ treo đó, để thính chúng tự rút ra cho mình những nhận định riêng sau khi nghe nhiều lập luận trái chiều nhau.
Ở các hình thức bài giảng sau, thính chúng luôn luôn được chuẩn bị để có thể tham gia tích cực vào quá trình diễn tiến của bài giảng; nhưng trước đó, luôn luôn có những phần diễn giảng hoặc sơ lược, hoặc chi tiết của vị giảng sư. Chính vì thế mà các nhà nghiên cứu khẳng định rằng hoạt động thuyết  giảng vẫn là công việc chính của ngành sư phạm hoằng pháp.
Một vấn đề quan trọng cần lưu ý các vị giảng sư, là ngay trong trường hợp thực hiện bài giảng theo hình thức mô tả, các vị giảng sư cũng nên định ý rằng khả năng chú tâm của thính chúng chỉ kéo dài trong khoảng từ mười lăm tới hai mươi phút. Vì thế, mọi đoạn thuyết giảng kéo dài quá hai mươi phút đều rơi vào khoảng không chú tâm của thính chúng. Tất nhiên, sự chú tâm của thính chúng không đều, khi người này đã chuẩn bị lơ là thì có thể là lúc người khác bắt đầu chú ý; vì thế, vị giảng sư cứ tưởng rằng thính chúng đang quan tâm tới điều mình nói, nhưng không phải vậy, mà luôn luôn chỉ có một vài người trong thính chúng nghe một bài giảng dài quá hai mươi phút. Cho nên, vị giảng sư cần chú ý để phân đoạn bài giảng thành những chủ điểm chỉ phải trình bày thật ngắn gọn.
Thêm nữa, sau mỗi phân đoạn của bài giảng, tốt nhất vị giảng sư nên tạo điều kiện cho thính  chúng đặt câu hỏi để mình trả lời, mở rộng ý nghĩa của vấn đề. Khi trả lời, nếu người hỏi không đi vào trọng tâm của chủ đề thì vị giảng sư có thể không trả lời. Trong trường hợp người phát biểu không đặt câu hỏi mà lại diễn giảng ý riêng của mình, vị giảng sư có thể lắng nghe một đoạn, rồi chờ khi người đó lấy hơi nói tiếp thì ngắt lời bằng cách chuyển sự chú ý vào chủ đề bài giảng, tránh việc phê bình người phát biểu.
Một vị giảng sư hoằng pháp phải là người có tín tâm kiên cố và đã có sự thực hành Phật pháp ở mức độ khả chấp để thực sự tự tin vào điều mình thuyết giảng. Nhưng bên cạnh đó, việc rèn luyện kỹ năng và phương pháp thuyết giảng vẫn là điều cần thiết để mang lại thành công cho việc thuyết giảng. Trên hết, vị giảng sư cần luôn luôn nhớ rằng một trong những yếu tố mang lại thành công cho việc hoằng pháp là giành được sự tin tưởng của thính chúng. Khi có sự tin tưởng của thính chúng vào vị giảng sư thì buổi thuyết giảng đã thành công được một nửa. Tuy nhiên, phần còn lại vẫn phụ thuộc vào tài năng của vị giảng sư. Vì thế, nếu đã chọn sự nghiệp hoằng pháp làm Phật sự của đời mình, một mặt, vị giảng sư cần chú tâm tu tập và giữ gìn giới đức ngay từ những bước khởi đầu; mặt khác, vị giảng sư cũng phải rèn luyện về phương  pháp và kỹ năng, như thế mới có thể trở thành  một vị giảng sư hoằng pháp có hiệu quả, thực sự đóng góp vào việc hoằng dương Chánh pháp của Đức Bổn sư. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.8/5/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Tuesday, 6 May 2014

Phật Giáo Thánh Kinh hay Kinh Lời Vàng (Bản dịch của HT Trí Nghiêm).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.7/5/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.
TAM TẠNG PĀLI & CHÚ GIẢI
 
Hệ phái Theravāda - Nguyên Thủy
(Trình bày ở dạng Pdf) (Trình bày ở dạng web)
 
Cập Nhật: Saturday, April 05, 2014
 
 
PĀLI - CHÁNH TẠNG
 
NGUYÊN TÁC PĀLI:
(Theo Tam Tạng Sri Lanka)
 
BẢN DỊCH TỪ CHÁNH TẠNG PĀLI:
(Dịch trực tiếp từ văn bản Pali)
 
BẢN DỊCH TỪ NGÔN NGỮ KHÁC:
ANH, THÁI, KH-MER, MIẾN
 
 
TẠNG LUẬT
 
 
01
 
02
 
03
 
 
04
Đại Phẩm I - Tk. Indacanda
 
05
Đại Phẩm II - Tk. Indacanda
 
06
Tiểu Phẩm I - Tk. Indacanda
 
07
Tiểu Phẩm II - Tk. Indacanda
 
 
08
Tập Yếu I - Tk. Indacanda
 
09
Tập Yếu II - Tk. Indacanda
 
 
 
TẠNG KINH
 
 
10
Trường Bộ 1 - HT. Th Minh Châu
Trường Bộ 2 - HT. Th Minh Châu
 
11
 
12
 
 
13
Trung Bộ 1 - HT. Th Minh Châu
 
14
Trung Bộ 2 - HT. Th Minh Châu
 
15
Trung Bộ 3 - HT. Th Minh Châu
 
 
16
Saṃyuttanikāya I
Tương Ưng Bộ 1 - HT. Th Minh Châu
Tương Ưng Bộ 2 - HT. Th Minh Châu
Tương Ưng Bộ 3 - HT. Th Minh Châu
Tương Ưng Bộ 4 - HT. Th Minh Châu
Tương Ưng Bộ 5 - HT. Th Minh Châu
 
17
Saṃyuttanikāya II
 
18
Saṃyuttanikāya III
 
19
Saṃyuttanikāya IV
 
20
Saṃyuttanikāya V (1)
 
21
Saṃyuttanikāya V (2)
 
 
22
Aṅguttaranikāya I
Tăng Chi Bộ 1 - HT. Th Minh Châu
Tăng Chi Bộ 2 - HT. Th Minh Châu
Tăng Chi Bộ 3 - HT. Th Minh Châu
Tăng Chi Bộ 4 - HT. Th Minh Châu
 
23
Aṅguttaranikāya II
 
24
Aṅguttaranikāya III
 
25
Aṅguttaranikāya IV
 
26
Aṅguttaranikāya V
 
27
Aṅguttaranikāya VI
 
 
28
Tiểu Tụng - HT. Th Minh Châu
Tiểu Tụng - Tk. Indacanda
Nhiều Dịch Giả
Pháp Cú - HT. Th Minh Châu
Pháp Cú - Tk. Indacanda
Kinh Pháp Cú - Ô. Phạm Kim Khánh
Phật Tự Thuyết - HT. Th M. Châu
Phật Tự Thuyết - Tk. Indacanda
 
 
29
Kinh Tập - HT. Th Minh Châu
Kinh Tập - Tk. Indacanda (đang dịch)
Phật tử Nguyễn Thị Thanh

30
Chuyện Thiên Cung - Tk. Indacanda
Chuyện Thiên Cung - Gs. Phương Lan
Chuyện Ngạ Quỷ - Tk. Indacanda
Chuyện Ngạ Quỷ - Gs. Phương Lan
31
Trưởng Lão Kệ - Tk. Indacanda
Trưởng Lão Tăng Kệ - HT. Th Minh Châu
Trưởng Lão Ni Kệ - Tk. Indacanda
Trưởng Lão Ni Kệ - HT. Th Minh Châu
 
32
(chưa dịch)
Chuyện Tiền Thân Tập I, Tập II, Tập III, Tập IV, Tập V, Tập VI , Tập VII - HT. Th Minh Châu và Gs. Trần Phương Lan
33
Jātakapāḷi II
(chưa dịch)
34
Jātakapāḷi III
(chưa dịch)
 
35
(đang dịch)
 
36
(đang dịch)
 
 
37
Phân Tích Đạo I - Tk. Indacanda
Đạo Vô Ngại Giải - Nguyễn Văn Ngân
38
Phân Tích Đạo II  - Tk. Indacanda
 
39
Thánh Nhân Ký Sự I - Tk. Indacanda
 
40
Thánh Nhân Ký Sự II - Tk. Indacanda
 
41
Thánh Nhân Ký Sự III - Tk. Indacanda
 
 
42
Phật Sử - Tk. Indacanda
 
Hạnh Tạng - Tk. Indacanda
Hạnh Tạng - Tk. Thiện Minh
 
43
Nettipakaraṇapāḷi
(chưa dịch)
Hướng Dẫn Chú Giải Tam Tạng Kinh Điển Nettippakaranam - Tk. Siêu Minh
44
Peṭakopadesapāḷi
(chưa dịch)
Tìm Hiểu Tam Tạng Kinh Điển - Tk. Siêu Minh
45
Milinda Vấn Đạo - Tk. Indacanda
Mi Tiên Vấn Đáp - HT. Giới Nghiêm (Thượng Tọa Giới Đức hiệu đính)
 
 
TẠNG VI DIỆU PHÁP
 
 
46
Dhammasaṅganipakaraṇa
Bộ Pháp Tụ - Ban Tu Chỉnh
Bộ Pháp Tụ - HT. Tịnh Sự
 
47
Vibhaṅgapakaraṇa I
Bộ Phân Tích tập I - Ban Tu Chỉnh
Bộ Phân Tích tập II - Ban Tu Chỉnh
Bộ Phân Tích - HT. Tịnh Sự
48
Vibhaṅgapakaraṇa II
 
49
Kathāvatthu I
(chưa dịch)
Bộ Ngữ Tông - HT. Tịnh Sự,
Những Điểm Dị Biệt - Tâm An, Minh Tuệ
50
Kathāvatthu II
(chưa dịch)
51
Kathāvatthu III
(chưa dịch)
 
52
Dhātukathā
Bộ Chất Ngữ - Ban Tu Chỉnh
Bộ Chất Ngữ - HT. Tịnh Sự
Puggalapaññattipāḷi
Bộ Nhơn Chế Định - Ban Tu Chỉnh
Bộ Nhân Chế Định - HT. Tịnh Sự
 
53
Yamakapakaraṇa I
Bộ Song Đối tập I - Ban Tu Chỉnh
Bộ Song Đối tập II - Ban Tu Chỉnh
Bộ Song Đối tập III - Ban Tu Chỉnh
Bộ Song Đối tập IV - Ban Tu Chỉnh
Bộ Song Đối - HT. Tịnh Sự
54
Yamakapakaraṇa II
55
Yamakapakaraṇa III
 
56
Patthānapakaraṇa I
Bộ Vị Trí tập I - Ban Tu Chỉnh
Bộ Vị Trí tập II - Ban Tu Chỉnh
Bộ Vị Trí tập III - Ban Tu Chỉnh
Bộ Vị Trí tập IV - Ban Tu Chỉnh
Bộ Vị Trí tập V - Ban Tu Chỉnh
Bộ Vị Trí tập VI - Ban Tu Chỉnh
Bộ Vị Trí - HT. Tịnh Sự
57
Patthānapakaraṇa II
58
Patthānapakaraṇa III
 
 
AṬṬHAKATHĀ - CHÚ GIẢI
 
NGUYÊN TÁC PĀLI:
(Theo Pali Text Society)
 
BẢN DỊCH TỪ CHÁNH TẠNG PĀLI:
 
BẢN DỊCH TỪ NGÔN NGỮ KHÁC: ANH, THÁI, KH-MER, MIẾN
 
 
TẠNG LUẬT
 
 
Samantapāsādikā 1
Chú Giải Tạng Luật 1 (chưa dịch)
 
Samantapāsādikā 2
Chú Giải Tạng Luật 2 (chưa dịch)
 
Samantapāsādikā 3
Chú Giải Tạng Luật 3 (chưa dịch)
 
Samantapāsādikā 4
Chú Giải Tạng Luật 4 (chưa dịch)
 
Samantapāsādikā 5
Chú Giải Tạng Luật 5 (chưa dịch)
 
Samantapāsādikā 6
Chú Giải Tạng Luật 6 (chưa dịch)
 
Samantapāsādikā 7
Chú Giải Tạng Luật 7 (chưa dịch)
 
Samantapāsādikā 8
Chú Giải Tạng Luật 8 (chưa dịch)
 
 
 
TẠNG KINH
 
 
Sumaṅgalavilāsinī
Chú Giải Trường Bộ (chưa dịch)
 
Papañcasūdanī
Chú Giải Trung Bộ (chưa dịch)
 
Sāratthappakāsinī
Chú Giải Tương Ưng (chưa dịch)
 
Manorathapūraṇī
Chú Giải Tăng Chi (chưa dịch)
 
Paramatthajotikā I
Chú Giải Khuddakapātha (chưa dịch)
Chú Giải Tiểu Tụng - Tk. Thiện Minh
Dhammapadaṭṭhakathā
Chú Giải Dhammapada (chưa dịch)
Nhiều Dịch Giả
Paramatthadīpanī I
Chú Giải Udāna (chưa dịch)
Paramatthadīpanī II
Chú Giải Itivuttaka (chưa dịch)
Paramatthajotikā II
Chú Giải Suttanipāta (chưa dịch)
 
Paramatthadīpanī III
Chú Giải Vimānavattha (chưa dịch)
Paramatthadīpanī IV
Chú Giải Petavatthu (chưa dịch)
Paramatthadīpanī V
Chú Giải Theragāthā (chưa dịch)
 
Paramatthadīpanī VI
Chú Giải Therīgāthā (chưa dịch)
Jātakatthavaṇṇanā
Chú Giải Jātaka (chưa dịch)
 
Saddhammajotikā
Chú Giải Niddesa (chưa dịch)
 
Saddhammappakāsinī
Chú Giải Paṭisambhidāmagga (chưa dịch)
 
Visuddhajanavilāsinī
Chú Giải Apadāna (chưa dịch)
 
Madhuratthavilāsinī
Chú Giải Buddhavaṃsa (chưa dịch)
Paramatthadīpanī VII
Chú Giải Cariyāpiṭaka (chưa dịch)
 
 
 
TẠNG VI DIỆU PHÁP
 
 
Atthasālinī
Chú Giải Dhammasaṅganī (chưa dịch)
Chú Giải Bộ Pháp Tụ - Tk. Thiện Minh
Sammohavinodanī
Chú Giải Vibhaṅga  (chưa dịch)
Chú Giải Bộ Phân Tích - Tk. Thiện Minh
Pañcappakaraṇaṭṭhakathā
Chú Giải Dhātukathā (chưa dịch)
 
Pañcappakaraṇaṭṭhakathā
Chú Giải Puggalapaññatti (chưa dịch)
 
Pañcappakaraṇaṭṭhakathā
Chú Giải Kathāvatthu (chưa dịch)
Pañcappakaraṇaṭṭhakathā
Chú Giải Yamaka (chưa dịch)
 
Pañcappakaraṇaṭṭhakathā
Chú Giải Patthāna (chưa dịch)
 
 
 
ṬĪKĀ - SỚ GIẢI
 
    
    
    
    
 
PAKARAṆAṂ - SÁCH
 
    
+ SÁCH 59: Dīpavamsa & Sử Liệu về Đảo Lankā (PDF File) - Tỳ khưu Indacanda.
+ SÁCH 60: Dāthāvamsa & Sử Liệu về Xá Lợi Răng Phật (PDF File) - Tỳ khưu Indacanda.
+ SÁCH 61: Thūpavaṃsa & Sử Liệu về Bảo Tháp Xá Lợi Phật (PDF File) - Tỳ khưu Indacanda.
+ SÁCH 62: Saddhammasaṅgaha & Diệu Pháp Yếu Lược (PDF File) - Tỳ khưu Indacanda.
+ SÁCH 63: Ratanattayapūjā & Lễ Bái Tam Bảo (PDF File) - Tỳ khưu Indacanda.
+ SÁCH 64: Vimuttimagga & Giải Thoát Đạo - Group Pali Chuyên Đề.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.7/5/2014.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.