Sunday, 10 February 2013

TOÀN TẬP


TÂM NHƯ TRÍ THỦ

--- o0o ---





Mục Lục

Tập 1
LUẬN
Năm Lượng Phương Tiện Lý Giải ( trang 667-672 đang còn thiếu tài liệu)
Tập 2
LUẬT
Đàm vô đỨC bỘ TỨ PHẦN LUẬT
Tỳ kheo giỚI BỔN
HiỆp chú
CHÁNH VĂN
Tập 3
HIỆP CHÚ


Lời nói đầu


Thế là gần một phần năm thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày vị ân sư của chúng tôi là Hoà thượng Tâm Như Đạo Giám Trí Thủ viên tịch. Đây là một mất mát to lớn không những đối với bản thân những người đã thọ ân Hoà thượng mà còn đối với đạo pháp và dân tộc. Cuộc đời của Hòa thượng đã có những cống hiến có tầm cỡ đối với sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp của Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ XX, do thế, đáng được cho những người lớp sau, cụ thể là chúng tôi học tập và suy ngẫm. Chính trong quá trình học tập và suy ngẫm này, chúng tôi đã sưu tập được những lời dạy bảo của Ngài qua một số các công trình được viết thành văn bản. Xét rằng, những công trình này không những hữu ích cho chúng tôi, mà cho cả nhiều tầng lớp người khác trong tương lai, vì thế, để đền đáp lại phần nào công ơn giáo dưỡng của Hòa thượng, chúng tôi đã mạnh dạn cho công bố các công trình đã được chúng tôi sưu tập.

Chúng tôi biết rằng, những công trình đã sưu tập được ấy chưa phải đã bao quát hết toàn bộ các bài viết, bài nói của Hòa thượng trong hơn nửa thế kỷ phục vụ đạo pháp và dân tộc. Cụ thể là toàn bộ các bài phát biểu bằng văn bản của Hòa thượng từ những năm 1951, khi ngài giữ chức vụ Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam tại Trung phần, rồi vào những năm 1970 Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cho đến những năm 1980 khi đang giữ chức Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hiện chưa được sưu tập đầy đủ và xuất bản trong lần này. Chúng tôi vẫn mạnh dạn công bố những gì sưu tập được dưới danh nghĩa Toàn tập các tác phẩm của Hòa thượng, trước mắt, nhằm làm tư liệu học tập và nghiên cứu cho chúng tôi và những người khác và sau nữa để làm cơ sở cho những bổ di trong tương lai khi việc sưu tầm có thể tiến hành với nhiều thành tựu mới.

Suốt cuộc đời mình, Hòa thượng đã phục vụ cho đạo pháp và dân tộc qua nhiều nhiệm vụ khác nhau. Nhưng nét nổi bật, mối ưu tư hàng đầu của Hòa thượng vẫn là vấn đề giáo dục và văn hóa. Từ những ngày đầu xây dựng trường Phật học Việt Nam đầu tiên ở chùa Tây Thiên - Huế vào những năm 1930, rồi thành lập Viện Cao đẳng Phật học, tiền thân của Viện Đại học Vạn Hạnh, vào năm 1964, cho đến những ngày cuối cùng tại Quảng Hương Già Lam, không lúc nào vấn đề giáo dục lại không được Hòa thượng quan tâm. Hòa thượng đã đào tạo thành công nhiều lớp môn đồ khác nhau đã và đang giữ những trọng trách của giáo hội khắp cả nước trong nhiều lãnh vực. Để tìm hiểu sự nghiệp giáo dục ấy, chúng ta cần phải có những công trình của Hòa thượng trong tay. Vì thế, chúng tôi đã thống nhất cho xuất bản Toàn tập Tâm Như Trí Thủ nhân ngày giỗ lần thứ 18 của Ngài.

Khi sắp xếp các công trình của Hòa thượng để cho xuất bản bộ Toàn tập, chúng tôi ban đầu muốn dựa trên lối sắp xếp truyền thống là Kinh - Luật - Luận và tạp văn. Nhưng do Hòa thượng trong cuộc đời mình đã chuyên về Luật tạng, nên công trình liên hệ đến Luật tạng chiếm một số lượng lớn. Do vậy, Toàn tập này được sắp xếp về cơ bản vẫn theo lối truyền thống vừa nói với một số điều chỉnh. Toàn bộ các công trình của Hòa thượng, chúng tôi công bố trong ba tập. Tập I bao gồm các bản dịch kinh điển ra tiếng Việt cùng các bản chú giải. Trong tập này, chúng tôi đưa vào thêm các văn bản về các nghi thức Phật giáo do Hòa thượng thiết định, từ những nghi thức đơn giản nhất như Sám hối, thành hôn, . . . cho đến những nghi thức phức tạp nhất như Nghi thức Chẩn tế. Đồng thời, chúng tôi cũng đưa vào tập này các bài thơ, câu đối, các giai thoại về Hòa thượng. Còn tập II và tập III thì hoàn toàn giành cho những vấn đề liên hệ tới Giới luật và Luật tạng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.11/2/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT.

Sa di nam, tiếng Phạn là Sramanera, và Sa di ni là Sramanerika. Sa di thường được dịch là tức từ. Tức là chấm dứt, quyết tâm chấm dứt nếp sống hệ lụy và khổ đau. Từ là thương yêu, học hỏi thương yêu mọi người và mọi loài bằng trái tim của một vị bồ tát, không vướng mắc, không phân biệt. Sa di cũng có nghĩa là cần sách, nghĩa là chuyên cần và luôn luôn được nhắc nhở. Sa di cũng có nghĩa là cầu tịch, nghĩa là mong cầu đạt đến quả vị niết bàn, chấm dứt mọi vọng tưởng, vọng động, phiền não và khổ đau.
Bản chất của đời sống một vị Sa di là sự thực tập mười giới và các uy nghi. Mười giới và các uy nghi đều là những biểu hiện cụ thể của sự thực tập chánh niệm, bởi vì chánh niệm là bản chất của tất cả các giới và các uy nghi, và vì vậy giới và uy nghi cũng là chánh niệm. Nhờ có giới mà ta có Định và có Tuệ. Sự thực tập Giới, Định và Tuệ đưa ta vào con đường Thánh, giúp ta thực hiện an lạc, vững chãi và thảnh thơi. Thực tập mười giới và các uy nghi đưa người Sa di tới sự tiếp nhận giới Lớn và giới Bồ Tát.
Giới luật và uy nghi không phải là những yếu tố hạn chế và bó buộc, trái lại đó là những phương tiện bảo vệ tự do cá nhân và tạo nên sự hòa hợp và an lạc cho đoàn thể tu học mình. Bụt dạy trong năm năm đầu của đời sống xuất gia, ai cũng phải chú tâm đặc biệt tới sự học hỏi và hành trì giới luật và uy nghi. Năm năm ấy là nền tảng cho sự thành công của cả đời sống một người xuất gia. Thực tập mười giới và các uy nghi, người xuất gia trẻ sẽ nuôi dưỡng hàng ngày được tâm Bồ đề và sẽ không bao giờ cô phụ chí hướng xuất gia cao cả của mình.
Sách Sa Di Luật Nghi Yếu Lược của thầy Châu Hoằng (trú trì chùa Vến Thê, 1535-1615) viết vào cuối thế kỷ thứ mười sáu, đến nay đã tròn bốn trăm năm. Sách này không còn đáp ứng được một cách đầy đủ những nhu yếu hiện thời của các vị Sa di, cho nên các vị Giáo thọ của đạo tràng Mai Thôn đã quyết định biên soạn cuốn Bước Tới Thảnh Thơi này. Ta biết rằng trong lãnh vực sách giáo khoa, khoa học cũng như văn chương, mỗi năm đều có nhiều tác phẩm mới ra đời để cung ứng cho nhu cầu học hỏi và thực tập. Bốn trăm năm là một thời gian quá lâu. Các vị Sa di không thể chờ đợi lâu hơn nữa.
Trong cuốn này, tất cả những châu báu của các sách Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (của thiền sư Độc Thể), Sa Di Luật Nghi Yếu Lược (của thiền sư Châu Hoằng) và Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (của thiền sư Quy Sơn), vẫn còn được trân quý và bảo tồn. Tuy nhiên, thêm vào đó, rất nhiều châu báu mới, hoa trái của kinh nghiệm hành trì trong năm mươi năm qua đã được đưa vào sách. Chúng tôi tin tưởng sách này sẽ được các vị Sa di nam và nữ sử dụng, học hỏi và hành trì với rất nhiều hân hoan, vì sách đã được hình thành ngay trong hoàn cảnh của sự thực tập, mà không phải là đã được nghiên cứu và biên chép từ các tài liệu khác. Mong rằng sách Bước Tới Thảnh Thơi sẽ đóng góp được một phần tích cực vào công trình đào tạo ra một thế hệ người xuất gia trẻ có khả năng làm mới đạo Bụt và đáp ứng được những nhu yếu học hỏi tu tập của xã hội ngày nay.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.10/2/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT.
  • Luật xuất gia tóm tắt

  • Luật xuất gia tóm tắt
    Ngày đăng tin: 03/03/2011
    THERAVÀDA - PHẬT-GIÁO NGUYÊN-THỦY LUẬT XUẤT-GIA TÓM TẮT (PABBAJITA VINAYA SANKHEPA) VANSARAKKHITA BHIKKHU TỲ-KHƯU HỘ-TÔNG PL. 2510 - TL. 1966 TÁI BẢN PL. 2537 - TL. 1993
  • Bộ Tập Yếu (Parivāra)

  • Bộ Tập Yếu (Parivāra)
    Ngày đăng tin: 02/03/2011
    MỤC LỤC I. CHƯƠNG MƯỜI SÁU PHẦN CHÍNH THUỘC PHÂN TÍCH GIỚI TỲ KHƯU: 1. TÁM PHẦN VỀ TỘI VI PHẠM: Phần Quy Định Tại Đâu là phần thứ nhất: [1] Các câu hỏi liên quan đến điều pārājika thứ nhất [2] Hỏi và đáp...
  • Bộ Phân Tích Giới Bổn -Phần giới thiệu

  • Bộ Phân Tích Giới Bổn -Phần giới thiệu
    Ngày đăng tin: 02/03/2011
    PHẦN GIỚI THIỆU
    Tạng Luật (Vinayapiṭaka) thuộc về Tam Tạng (Tipiṭaka) là những lời dạy và quy định của đức Phật về các vấn đề có liên quan đến cuộc sống và sự sinh hoạt của các thành viên cũng như các công việc...
  • TIỂU PHẨM 2 (CULLAVAGGA II)

  • TIỂU PHẨM 2 (CULLAVAGGA II)
    Ngày đăng tin: 02/03/2011
    V. CHƯƠNG CÁC TIỂU SỰ (KHUDDAKAVATTHUKKHANDHAKAṂ):

    1. Tụng phẩm thứ nhất và thứ nhì:

    [1] Câu chuyện về các tỳ khưu nhóm Lục Sư: Trong khi tắm.
    [12] Đeo hoa tai. Đeo xâu chuỗi
    [13] Việc để tóc dài. Việc...
  • Tiểu Phẩm 1 (Cullavagga I)

  • Tiểu Phẩm 1 (Cullavagga I)
    Ngày đăng tin: 02/03/2011
    CULLAVAGGA I (TIỂU PHẨM 1)

    I. CHƯƠNG HÀNH SỰ (KAMMAKKHANDHAKAṂ):

    1. Hành sự khiển trách (Tajjanīyakammaṃ):

    [1] Câu chuyện về các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka
    [3] Thực thi hành sự khiển trách
    [4] Hành...
  • ĐẠI PHẨM 2(MAHĀVAGGA II)

  • ĐẠI PHẨM 2(MAHĀVAGGA II)
    Ngày đăng tin: 02/03/2011
    V. CHƯƠNG DA THÚ (CAMMAKKHANDHAKAṂ): [1] Câu chuyện về thanh niên Soṇa Koḷivisa, câu chuyện về trưởng lão Sāgata [2] Thanh niên Soṇa Koḷivisa xin xuất gia, ví dụ về dây đàn [3] Trưởng lão Soṇa Koḷivisa công bố sự chứng ngộ[5]...
  • Đại Phẩm (Mahāvagga) TẬP MỘT

  • Đại Phẩm (Mahāvagga) TẬP MỘT
    Ngày đăng tin: 02/03/2011
    MAHĀVAGGA I (ĐẠI PHẨM 1) I. CHƯƠNG TRỌNG YẾU (MAHĀKHANDHAKAṂ):1. Tụng phẩm thứ nhất: [1] Phần nói về sự Giác Ngộ[4] Phần nói về cội cây si của những người chăn dê [5] Phần nói về cội cây Mucalinda. Câu chuyện về...
  • Phân Tích Giới Tỳ-khưu Ni (Bhikkhunivibhanga)

  • Phân Tích Giới Tỳ-khưu Ni (Bhikkhunivibhanga)
    Ngày đăng tin: 02/03/2011
    Giới thiệu [3.1] I. CHƯƠNG PĀRĀJIKA (Pārājikakaṇḍaṃ): 1. Pārājika thứ nhất: Tội xúc chạm với người nam [1] Câu chuyện về Sāḷha cháu trai của Migāra và tỳ-khưu ni Sundarīnandā. Sự quy định [2] Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích...
  • Phân Tích Giới Tỳ-khưu - I

  • Phân Tích Giới Tỳ-khưu - I
    Ngày đăng tin: 01/03/2011
    Mục Lục
    Chương Verañja (Verañjakaṇḍaṃ)
    Tụng phẩm Verañja
    [1] Đức Thế Tôn ngự tại Verañjā
    [2] Phần nói về sự bình phẩm đức Thế Tôn
    [3] Ví dụ về con gà con. Giảng về ba Minh.
    [4] Bà-la-môn Verañja quy y...
  • Phân Tích Giới Tỳ-khưu - II

  • Phân Tích Giới Tỳ-khưu - II
    Ngày đăng tin: 28/02/2011
    VII. CHƯƠNG ƯNG XẢ ĐỐI TRỊ (Nissaggiyakaṇḍaṃ)
    PHẦN Y:

    1. Điều học thứ nhất (Cất giữ y dư mười ngày):

    [1] Câu chuyện về các tỳ-khưu nhóm Lục Sư. Sự quy định (paññatti) lần thứ nhất.v.v...HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.10/2/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT.
  • Văn - Thơ - Truyện >> Xả thân vì pháp


    Xem tại thư viện

     

    XẢ THÂN VÌ PHÁP
    Pháp sư Hải Đào
    Tranh truyện cho mọi nhà
    Nhà xuất bản Phương Đông

    MỤC LỤC

    Kho hồi báo
    Nước mắt của chú trâu
    Tham lam phải trả giá
    Tham dục như lửa thiêu thân
    Thiện hữu thiện báo
    Cuối cùng đắc đạo
    Bát cơm trăm vị
    Sữa sư tử
    Làm quốc vương bảy ngày
    Giết người đền mạng
    Lão ngốc thông minh
    Một kệ ngàn vàng
    Ma vương tật đố
    Xả thân vì pháp
    Xuất gia – hoàn gia
    Buông cả hai tay
    Quan tâm lẫn nhau
    Tỳ kheo lành nghề
    Đôi tay sinh vàng
    Những viên sỏi trắng
    Tôn giả Ca Diếp
    La Hán Đế Tu
    Làm việc gì xấu.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.10/2/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT.

    Giới Luật

    Chú giải Luật Thiện Kiến
    Chú giải Luật Thiện Kiến
    Pháp thức và ý nghĩa Hành trì giới luật
    Pháp thức và ý nghĩa Hành trì giới luật
    Sa Di luật giải
    Sa Di luật giải
    Bách Trượng Thanh Quy
    Bách Trượng Thanh Quy
    Thức-xoa-ma-na Luật Nghi
    Thức-xoa-ma-na Luật Nghi
    Sắc tu Bách Trượng thanh quy tập 2
    Sắc tu Bách Trượng thanh quy tập 2
    Sắc tu Bách Trượng thanh quy tập 1
    Sắc tu Bách Trượng thanh quy tập 1
    Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Mahasanghika
    Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Mahasanghika
    Ý nghĩa giới luật
    Ý nghĩa giới luật
    Tạng Luật - Đại Phẩm 1
    Tạng Luật - Đại Phẩm 1
    Tập Yếu PARIVĀRA I
    Tập Yếu PARIVĀRA I
    Luật Tứ Phần 1
    Luật Tứ Phần 1
    • 1
    • 2
    • 3
    • Trang kế.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.10/2/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT.
    KHÁI LƯỢC VỀ GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO .

     


    Khi Phật còn tại thế, có một lần, Tôn giả Xá-lợi-phất thưa với Phật: Bạch đức Thế Tôn! Sau khi Như Lai diệt độ, làm sao để chánh pháp của Như Lai được tồn tại lâu dài? Thế Tôn dạy: Đức Phật nào mà có nói giới, nói pháp thì chúng đệ tử nhờ đó để tu hành, làm cho chánh pháp được cửu trụ sau khi Như Lai diệt độ. Khi ấy Xá-lợi-phất thưa với Ngài rằng: Bạch Thế Tôn! Tại sao con không thấy Ngài chế giới mà chỉ nói pháp? Phật dạy: này Tôn giả! Ta biết thời phải làm gì. Nay chưa tới thời nên ta chưa chế giới. Khi nào trong Tăng chúng có việc vì danh lợi, vì hữu lậu xảy ra thì Như Lai mới chế giới.
    Vì thế, suốt 12 năm đầu, sau khi Phật thành đạo, Ngài đã không thuyết giới. Đến năm thứ 13, các pháp hữu lậu xuất hiện và đã xảy ra sai phạm trong chúng Tỳ kheo, rồi căn cứ vào sự vi phạm ấy Phật chế giới. Như người vá áo, không bao giờ vá vào những chỗ chưa bị rách. Đức Phật cũng không bao giờ quy định trước điều này hay ngăn cấm điều kia khi đệ tử Ngài chưa thật sự làm gì sai với Thánh đạo. Như vậy chứng tỏ rằng Phật chế giới không phải là để bó buộc đệ tử mình, mà chính vì con đường giải thoát và ngăn ngừa sự hư đốn của Tăng đoàn.
    Giới luật Phật giáo bao gồm tại gia và xuất gia. Tại gia có Ngũ giới, Bát quan trai giới, Thập thiện (mười giới). Xuất gia thì Sa di và Sa di ni 10 giới, Thức xoa ma ni có thêm 6 học giới, Tỳ kheo 250 giới, Tỳ kheo ni 348 giới. Bồ tát thì có 10 giới trọng 48 giới khinh cho cả xuất gia và tại gia.
    Với mục đích ngăn ngừa các hành vi bất thiện, Giới luật của đạo Phật đã được thiết lập trên tinh thần “tùy phạm tùy chế”, nên không có tính cách giáo điều ràng buộc. Vì vậy ý nghĩa về giới luật rất rõ ràng:
    + Giới, tiếng Pali là Sila, phiên âm là Thi la, có nghĩa là điều ngăn cấm do đức Phật chế định cho hàng đệ tử Phật dùng để ngăn ngừa tội lỗi của 3 nghiệp. Do vậy, Giới còn được định nghĩa là:
    - Phòng phi chỉ ác: Ngăn ngừa điều sai trái, chặn đứng việc xấu ác.
    - Biệt giải thoát: Giữ được giới nào, giải thoát được việc đó.
    - Xứ xứ giải thoát: Nơi nào giới luật được tuân thủ thì nơi ấy cuộc sống được thanh thoát.
    - Tùy thuận giải thoát: Hướng về con đường giải thoát.
    - Thanh lương: Làm cho cuộc sống mát mẻ, thoải mái.
    - Chế ngự: Có năng lực kiềm chế những việc xấu, ác.
    + Luật, chữ Phạn là Vinaya, phiên âm là Tỳ-nại-da, nói gọn là Tỳ-ni, dịch nghĩa là điều phục (chế ngự, nhiếp phục), diệt (diệt trừ điều ác). Luật là những nguyên tắc do Phật quy định cho hàng Tỳ kheo áp dụng khi sống trong tập thể Tăng đoàn.
    Tóm lại, giới là điều răn, luật là quy luật thi hành giới. Luật bao hàm cả giới còn giới chỉ là một bộ phận của luật. Tuy gọi khác nhau như thế nhưng tánh chất vốn đồng nên có tên ghép là giới luật.
    Giới luật gồm có nhiều loại:
    1. Giới Thanh văn:
    Đây là giới của hàng xuất gia, có công năng giúp giữ gìn bản thể thanh tịnh Tỳ kheo và phát triển sự hòa hợp Tăng đoàn, gồm các đặc điểm:
    + Về công dụng:
    -Chỉ trì: Không làm việc bất thiện tức là hành trì. Đây chỉ cho các loại giới bản của Tỳ kheo, Tỳ kheo ni
    - Tác trì: Thực hiện các điều Phật quy định tức là hành trì. Đây chỉ cho các Kiền độ, các pháp Yết ma.
    + Về tính chất:
    - Tánh giới: Tính chất của sự việc. Nghĩa là việc đó nếu vi phạm thì có tội.
    - Giá giới: Những điều ngăn cấm để khỏi dẫn đến phạm các trọng tội.
    + Về phương diện: Giới chia làm 4 loại:
    - Giới pháp: Những điều do Phật chế định
    - Giới thể: Bản thể của giới. Giới này phát sinh lúc thọ giới Cụ túc khi có đủ 3 nhân tố: Giới tử chí thành, giới sư thanh tịnh và giới đàn trang nghiêm.
    - Giới hạnh: Các hành vi của 3 nghiệp hoạt hiện ra ngoài phù hợp với giáo pháp.
    - Giới tướng: Các tướng trạng của giới.
    Thông thường các Luật sư đem chia giới bản của Tỳ kheo, Tỳ kheo ni thành 5 thiên 7 tụ.
    - Năm thiên gồm có: 1.Thiên Ba-la-di, 2.Thiên Tăng-già-bà-thi-sa, 3.Thiên Ba-dật-đề, 4.Thiên Đề-xá-ni, 5.Thiên Đột-cát-la.
    - Bảy tụ gồm có: 1.Tụ Ba-la-di, 2.Tụ Tăng-già-bà-thi-sa, 3.Tụ Thâu-lan-giá, 4.Tụ Ba-dật-đề, 5.Tụ Đề-xá-ni, 6.Tụ Aùc-tác, 7.Tụ Aùc-thuyết.
    Ngoài ra còn phân chia qua các tên gọi:
    - Khai: mở ra.
    - Giá: ngăn lại.
    - Trì: tuân thủ.
    - Phạm: vi phạm.
    - Danh: tên gọi của giới.
    - Chủng: chủng loại của giới.
    - Tánh: tính chất của giới.
    - Tướng: tướng trạng của giới.
    2. Giới Bồ tát.
    Giới này còn gọi là thông giới, tức gồm cả xuất gia và tại gia cùng ứng dụng tu tập để thành tựu tâm Bồ đề, cũng có các đặc điểm sau:
    + Về tính chất: Được chia thành 3 loại gọi là Tam tụ tịnh giới; đó là:
    - Nhiếp luật nghi giới: Giới lìa ác (Nguyện dứt các điều ác).
    - Nhiếp thiện pháp giới: Giới hành thiện (Nguyện làm các điều lành).
    - Nhiêu ích hữu tình giới: Giới lợi tha (Nguyện làm lợi ích cho tất cả chúng sanh).
    + Về khinh trọng: 10 giới trọng và 48 giới khinh.
    + Về ứng dụng: Chia thành 2 loại:
    - Định cọng giới: Do tu thiền định, tự nhiên thân tâm thanh tịnh, giới hạnh đầy đủ, nghĩa là người tu thiền khi phát sanh hiệu quả, không cần giữ giới mà vẫn sống phù hợp với giới pháp.
    - Đạo cọng giới: Do tu Vô lậu nghiệp phát sanh trí tuệ, không cần thọ giới mà vẫn sống phù hợp với giới pháp.
    Ngoài ra giới của Phật chế còn có Biệt giới và Thông giới;
    - Biệt giới: Như giới của hàng xuất gia là 10 giới Sa di, 250 giới Tỳ kheo… và giới của hàng tại gia là 5 giới.
    - Thông giới: Là giới Bồ tát ai thọ cũng được.
    3. Giới tại gia.
    Theo nguyên tắc của Phật giáo, để trở thành một Phật tử, yêu cầu mọi người phải phát tâm thọ nhận ba pháp quy y (Quy y Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng) và hành trì năm giới.
    - Năm giới: Đây là bước đầu của sự tu học Phật pháp mà cả xuất gia và tại gia đều phải chấp hành. Bởi vì Năm giới là căn bản đạo đức làm người, là đức tính cơ bản của luân lý, là chiếc cầu nối đưa đến an lạc Niết Bàn. Đó cũng là yếu tố để xây dựng nền tảng cho hạnh phúc cá nhân, gia đình và xã hội. Năm giới đó là:
    1. Không được sát sanh.
    2. Không được trộm cắp.
    3. Không được tà dâm
    4. Không được nói dối.
    5. Không được uống rượu.
    Năm giới này được ghi chép lại trong bài kinh Ưu-bà-tắc 128 thuộc kinh Trung A Hàm và đã được đức Phật đúc kết lợi ích của việc thọ trì năm giới qua bài kệ sau:
    “ Kẻ trí sống tại gia,
    Thấy địa ngục sợ hãi,
    Do thọ trì Thánh pháp,
    Trừ bỏ tất cả ác.
    Không sát hại chúng sanh,
    Biết rồi hay lìa bỏ,
    Chân thật không nói dối,
    Không trộm của kẻ khác,
    Tri túc với gia phụ,
    Không ái lạc vợ người,
    Dứt bỏ việc uống rượu,
    Gốc tâm loạn cuồng si.
    Thường nên niệm chánh giác,
    Suy nghĩ các pháp lành,
    Niệm Tăng, quán giới cấm,
    Do đó được hoan hỉ…”
    - Mười giới: Trên nền tảng căn bản của năm giới, cũng y cứ nơi hành vi (thân), ngôn ngữ (khẩu), tâm lý (ý) mà đức Phật đã thiết lập pháp tu Thập thiện (10 giới) để nâng cao đời sống tâm linh, ý thức đạo đức cho hàng Phật tử tại gia. Thập thiện là:
    + Về thân có 3: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm.
    + Về khẩu có 4: Không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm.
    + Về ý: Không tham lam, không sân hận, không si mê.
    - Bát quan trai giới: Để tạo điện kiện cho hàng Phật tử tại gia tập tu hạnh xuất gia trong một ngày một đêm 24 giờ, đức Phật đã dạy thọ trì 8 giới. Trong đó, 5 giới đầu là của hàng tại gia, chỉ trừ giới thứ 3 là đổi lại thành không dâm dục; 3 giới sau tương đương với giới Sa di (của hàng xuất gia) là không được nằm giường cao rộng lớn đẹp đẽ không được trang điểm, thoa dầu thơm và múa hát hay xem múa hát, không được ăn phi thời.
    Nói chung, Đức Phật chế giới không ngoài việc đem lại an lạc trong đời sống hiện tại và tương lai cho những ai có ứng dụng hành trì. Không phân biệt là xuất gia hay tại gia, nếu khéo nghiêm trì giới luật thì sẽ được những lợi ích sau:
    1. Người có giới đức sẽ hưởng được gia tài pháp bảo nhờ tinh tấn.
    2. Người có giới đức được tiếng tốt đồn xa.
    3. Người có giới đức không sợ hãi rụt rè khi đến các hội chúng đông đúc.
    4. Người có giới đức khi chết tâm không rối loạn.
    5. Người có giới đức sau khi mạng chung được sinh về thiện thú, thiên giới.[1]
    Ở các bộ Quảng luật (chỉ cho tất cả các bộ Luật trong Luật tạng) có nói đến 10 lợi ích của giới là:
    1. Vì nhiếp phục Tăng chúng.
    2. Vì nhằm triệt để nhiếp phục Tăng chúng.
    3. Vì muốn cho Tăng chúng an lạc.
    4. Vì để nhiếp phục những người không biết hổ thẹn.
    5. Vì để cho những người biết hổ thẹn cư trú yên ổn.
    6. Vì để cho những người không tin khiến họ tin tưởng.
    7. Vì để cho những người đã tin tăng thêm lòng tin.
    8. Vì muốn dứt hết pháp lậu hoặc ngay trong hiện tại.
    9. Vì để cho những lậu hoặc chưa sinh không thể sinh khởi.
    10. Vì muốn cho chánh pháp được tồn tại lâu dài.[1]
    Như vậy, giới luật là nền tảng để hành giả hoàn thiện nhân cách, trong sạch thân tâm, hóa giải phiền não, xây dựng Tăng đoàn, tận trừ mọi lậu hoặc. Người nào tha thiết chấp trì giới luật thì chính là giữ gìn sự an lạc hạnh phúc cho mình và tha nhân ngay trong hiện tại và tương lai. Ngược lại, người nào không nghiêm túc vâng giữ giới luật là tự mình gây tổn hại đến nguồn an lạc hạnh phúc ấy.
    Vế vấn đề trì giới luật, trong kinh Tăng Chi II, chương 7 pháp, đức Phật cũng có dạy: “ Biết vi phạm, biết không vi phạm, biết phạm nhẹ, biết phạm nặng, có giới luật, sống ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong cái lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học pháp, chứng được không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức đối với bốn Thiền Tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí ngay trong hiện tại, chứng ngộ, chứng đạt Vô lậu tâm giải thoát. Thành tựu bảy pháp này gọi là người trì luật.”
    Nói tóm lại, để bảo hộ sự thanh tình trang nghiêm của Tăng đoàn, để gìn giữ bản thể của các Tỳ kheo cũng như để thiết lập một đời sống an ninh cho nhân loại, đức Phật đã tuyên bày giới luật. Giới luật có công năng là dứt hẳn nghiệp duyên, nghiệp nhân trong đường sanh tử. Không chỉ ở vị lai mà ngay trong đời sống hiện tại, nếu chúng ta vâng giữ giới pháp nghiêm cẩn thì cuộc sống sẽ an lành, thân tâm luôn thanh thản.
    Tuy nhiên cũng nên hiểu cho đúng nghĩa của giới luật là không chỉ ngăn ngừa đều xấu ác mà còn thể hiện ở việc năng làm điều thiện. Tức là bên cạnh việc “chỉ ác”, mặt tích cực của giới luật phải là “tác thiện”.
    Cho nên, là đệ tử Phật chúng ta phải thể hiện đúng vai trò của mình. Đối với hàng xuất gia thì phải “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, giữ gìn gia tài pháp bảo để hoằng dương chánh pháp. Đối với Phật tử tại gia thì song song với việc hộ trì Tam bảo, người Phật tử còn phải thể hiện nếp sống mô phạm của hàng tại gia đệ tử Phật, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội văn minh. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.10/2/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT.

    Saturday, 9 February 2013

    Giới Luật: Bách Trượng Thanh Quy . Bồ Tát Giới Bước tới thảnh thơi, giới luật & uy nghi của các vị Sa Di. Chú giải Luật Thiện Kiến. Cương yếu giới luật. Ðịa Trì Bồ Tát Giới Bổn. Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới. Luật Tứ Phần. Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Giới Tướng Biểu Ký. Luật Hữu Bộ Bách Nhất Yết Ma. Luật học đại cương. Luật Ma Ha Tăng Kỳ. Luật Xuất Gia. Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Giới Tướng Biểu Ký. Luật Hữu Bộ Bách Nhất Yết Ma. Luật Nghi Tổng Quát. Những truyện duyên khởi trong Luật Ngũ Phần Những chuyện duyên khởi trong Luật Bí Sô Ni. Người xuất gia Nghĩ về năm đức của người xuất gia. Nền tảng thiết lập giới. Phân Tích Giới Tỷ-Kheo Ni. Quá trình truyền dịch Luật Điển Đại Thừa ở Trung Quốc. Sa Di Giới và Sa Di Ni Giới . Sa Di Luật Nghi Yếu Lược. Tỳ Kheo Giới. Tỳ Nại Da. Tỳ Kheo Ni Giới. Tứ Thanh Tịnh Giới. Tỳ-nại-da Tạp Sự. Tứ Thanh Tịnh Giới và Phận sự của bậc xuất gia. Thức Xoa Ma Na Ni Giới . Trùng Trị Tỳ Ni Tâm Như Trí Thủ toàn tập Tính thiết yếu của giới luật. Tiểu Phẩm. Bát quan trai giới. Ba học. Giới định tuệ. Bát kỉnh pháp. Bát kỉnh pháp chướng ngại hay căn bệnh thời đại. Bình giải 13 việc chướng ngại sự tu tập của người xuất gia. Công dụng giới đức. Đạo đức Phật giáo Để có một tương lai. Giới luật công truyền hay bí truyền. Giới học Không sát sanh, tôn trọng sự sống Lời cảnh giác và khích lệ của Thiền sư Quy Sơn Nguồn gốc đạo đức Phật giáo Nhìn lại giá trị quyển Tỳ Ni Nhật Dụng Diễn Nôm sau 100 năm lưu hành. Năm giới, nếp sống lành mạnh, an lạc và vị tha Nền tảng xây dựng đời sống đạo đức theo Phật giáo Thọ Giới . Tụng năm giới.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.9/2/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT.