Wednesday, 30 November 2011

Bài mới nhất
Bài xem nhiều nhất
Tạng Luật - Chú Giải Luật Pali và Hán
Viết bởi Thích Thiện Siêu
Chỉ mục bài viết
Cương Yếu Giới luật
Cương Yếu Giới Luật Ch. I.15-
Cương Yếu Giới Luật Ch. I.53-
Cương Yếu Giới Luật Ch. II-
Tất cả các trang
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được "Cương yếu" thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoài mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.

Cương Yếu Giới luật

Hòa thượng Thích Thiện Siêu

Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Ấn Hành. PL. 2540 – DL. 1996

Mục Lục

Lời nói đầu
Chương I. Cương Yếu Giới luật
Chương II. Bồ Tát giới
Chương III. Bồ Tát Danh Và Thiệt
Chương IV. Xuất Gia Hoằng Phật Đạo
Chương V. Giới Là Bậc Thầy Cao Cả Nhất
Chương VI. Khai Đạo Giới Tử Thọ Bồ Tát giới
Chương VII. Thọ giới Là Làm Cho Phật Pháp Miên Trường Giữa Thế Gian

LỜI NÓI ĐẦU

Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được "Cương yếu" thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoài mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
Để tạo thêm sự dễ dàng cho việc hiểu và hành trì giới học, ngay sau Giới đàn năm 1994 tại chùa Báo Quốc, Huế viên mãn, tôi giảng cương yếu Giới luật cho Tăng, Ni, nhất là nhũng vị tân Thọ giới tại Giảng đường chùa Từ Đàm trong 7 hôm. Lời giảng này được ghi chép và sửa chữa, bổ sung thêm các bài liên quan Giới luật mà tôi đã giảng các lần khác, chung lại thành tập "Cương yếu Giới luật" này, mà hôm nay có đủ duyên để gởi đến quý vị độc giả. Hy vọng nó sẽ giúp ích được phần nào trong việc thực hành Giới học của những vị hảo tâm xuất gia.
Phật lịch 2540,
Chùa Từ Đàm, mùa An cư năm Bính Tý - 1996.
Thích Thiện Siêu

CHƯƠNG I: CƯƠNG YẾU GIỚI LUẬT

(Gồm các tiểu mục)
01. Thể Tánh Đồng Nhất.
02. Tám Hạng Tỳ Kheo.
03. Định Cọng Giới Và Đạo Cọng Giới.
04. Nguyên Nhân Phật Chế Giới Biệt Giải Thoát.
05. Mười Lợi Ích Của Việc Chế Giới.
06. Giới Thứ Nhất: Bất Dâm.
07. Giới Thứ Hai: Bất Đạo.
08. Giới Thứ Ba: Bất Sát.
09. Giới Thứ Tư: Bất Vọng Ngữ.
10. Giới Luật.
11. Bốn Khoa Của Giới.
12. Biệt Giới, Thông Giới.
13. Thế Tôn Diệt Độ.
14. Tân Tỳ Kheo Bạt Nan Đà Vui Mừng.
15. Kiết Tập Lần I
16. Tôn Giả A Nan Chứng A La Hán.
17. Tôn Giả A Nan Sám Hối.
18. Tôn Giả Kiều Phạm Ba Đề Diệt Độ.
19. Tôn Giả Xá Lợi Phất Và Mục Kiền Liên Tìm Đạo.
20. Truởng Trảo Phạm Chí Luận Chiến.
21. Tôn Giả Xá Lợi Phất Và Mục Kiền Liên Xuất Gia.
22. Tôn Giả Xá Lợi Phất Bị Vu Oan.
23. Tôn Giả Mục Kiền Liên Bị Hại.
24. Kiết Tập Kinh Và Luật.
25. Tôn Giả Ưu Ba Li Tụng Luật.
26. Nguyên Nhân Phân Hoá Luật.
27. Năm Bộ Luận Giải Thích Luật.
28. Nội Dung Tứ Phần Luật.
29. Chỉ Trì, Tác Trì.
30. Chuyện Xảy Ra ở Câu Diệm Di (Kosambiya)
31. Đức Phật ở ẩn Trong Rừng.
32. Phật Dạy Pháp Lục Hòa ở Kosambiya.
33. Phật Cấm Dùng Thần Thông Để Thu Bát.
34. Phân Tích Giới Bổn.
35. Giải Thích Bốn Ba La Di.
36. Giải Thích 13 Tăng Tàn.
37. Giải Thích 2 Bất Định.
38. Giải Thích 30 Xả Đọa.
39. Giải Thích 90 Ba Dật Đề.
40. Giải Thích 4 Hối Quá Pháp.
41. Giải Thích 100 Học Pháp.
42. Giải Thích 7 Diệt Tránh.
43. Tánh Giới Và Già Giới.
44. Các Yếu Tố Kết Thành Tội.
45. Sáu Trường Hợp Đặc Biệt Đối Thủ Sám Tội Tăng Tàn.
46. Sáu Trường Hợp Tâm Niệm Sám Diệt Tội Tăng Tàn.
47. Sám Hối Tội Ba La Di Và Tăng Tàn.
48. Sám Hối Tội Thâu Lan Giá.
49. Sám Hối Tội Ba Dật Đề, Đề Xá Ni, Đột Kiết La.
50. Mười Tám Việc Đưa Đến Phá Hòa Hợp Tăng: Phá Kiết Ma Tăng, Phá Pháp Luân Tăng
51. Thế Nào Là Tăng?
52. Đại Giới.
53. Giới Trường.
54. Thất Diệt Tránh.
55. Kiết Ma.
56. Điều Kiện Của Kiết Ma.
57. Tập Tăng Tác.
58. Thứ Hậu Tác.
59. Kiết Ma Phi Tướng.
60. Dự Dục.
61. Nhận Dự Dục.
62. Dự Dục Không Thành.
63. Kiết Đại Giới Bên Tăng Và Bên Ni.
64. Xuất Gia Thọ Giới.
65. Tỳ Kheo.
66. Đời Sống A La Hán.
67. Hòa Thượng.
68. Y Chỉ.
69. Nên Học Và Không Nên Học.
70. A Xà Lê.
71. Nguyên Nhân Thuyết giới.
72. Bố Tát.
73. Mục Đích Bố Tát.
74. Trung Gian Bố Tát.
75. Cách Thuyết giới.
76. Già Thuyết giới.
77. Không Đủ Tư Cách Ngăn Thuyết giới.
78. Đủ Tư Cách Ngăn Thuyết giới.
79. Triển Ngày Thuyết giới.
80. An Cư.
81. Tiền An Cư, Hậu An Cư.
82. Thọ Nhật.
83. Tự Tứ.
84. Cầu Thỉnh.
85. Y Đệ Ngũ Luật Sư.
CƯƠNG YẾU GIỚI LUẬT
1/ Thể Tánh Đồng Nhất.
Tỳ kheo, Tỳ kheo ni dầu tân dầu cựu về mặt Giới luật, thể tánh đồng nhất.
2/ Tám Hạng Tỳ Kheo.
Theo Tứ phần luật thì có 8 hạng Tỳ kheo:
1. Danh tự Tỳ kheo: Là tên do thế gian gọi, chứ không phải Tỳ kheo, vì không Thọ giới Cụ túc.
2. Tương tợ Tỳ kheo: Là cạo bỏ râu tóc mà không Thọ giới. Giả bộ hình tướng xuất gia nhưng thực chỉ là Cư sĩ trọc đầu.
3. Tự xưng Tỳ kheo: Là cạo bỏ râu tóc rồi mặc áo Ca sa trà trộn trong hàng ngũ xuất gia, tự xưng Thích tử. Trong Phật giáo gọi là tặc trụ. Hạng này cần phải đuổi ra khỏi ngôi nhà Phật pháp và không cho Thọ giới.
4. Khất thực Tỳ kheo: Cũng mặc áo Ca sa khất thực, lạm xưng Thích tử, nhưng kỳ thực là ngoại đạo hay Cư sĩ, không có Giới luật.
5. Thiện lai Tỳ kheo: Là khi Phật còn tại thế, bậc lợi căn đến xin xuất gia. Phật gọi "Thiện lai Tỳ kheo" tiến tu phạm hạnh để diệt khổ, tức thời râu tóc được phép tự rụng, Y Ca sa dính vào mình đúng Luật, trở thành Tỳ kheo.
6. Trước Ca sa Tỳ kheo: Là 3 Y của Tỳ kheo cắt dọc từng miếng may lại và nhuộm màu hoại sắc mà mặc, như ngoại đạo hay người thế tục cũng xưng là Tỳ kheo, kỳ thực không phải Tỳ kheo.
7. Phá kiết sử Tỳ kheo: Tất cả phiền não ràng buộc, làm cho chúng sinh phải trôi lăn trong 3 cõi. Nếu xuất gia có thể đoạn trừ được phiền não ấy thì chứng quả A la hán, liền đặng Cụ túc giới.
8. Bạch tứ Kiết ma Tỳ kheo: Nếu có người muốn xuất gia, họ đối trước chúng Tăng ba phen cầu khẩn. Chúng Tăng mới một lần bạch, 3 lần Kiết ma Truyền giới Cụ túc, gọi là bạch tứ Kiết ma. Một lần thưa, ba lần hỏi (biểu quyết).
Trong 8 hạng Tỳ kheo nói trên, trừ Thiện lai Tỳ kheo, là chúng Tỳ kheo chỉ có trong khi đức Phật còn tại thế. Trong những năm đầu khi chưa chế giới, những thiện nam nào đến với Ngài và xin phát tâm xuất gia thì gọi là Thiện lai Tỳ kheo. Ngay khi Ngài gọi "Thiện lai Tỳ kheo" thì mặc nhiên giới thể được đầy đủ. Trong kinh còn nói rõ thêm là: Y pháp cụ túc, tu phát tự lạc là Y phục được đầy đủ, râu tóc tự rụng. Tự rụng ở đây không phải là nó tự rụng liền đâu, nhưng nó được phép rụng (cắt, cạo) đúng Luật. Cụm từ "Thiện lai Tỳ kheo" chỉ có trong thời đức Phật chưa chế giới và cũng chỉ có Phật mới dùng tiếng "Thiện lai Tỳ kheo" mà thôi. Còn sau khi đức Phật chế giới rồi thì chỉ có Thọ giới trong Giới đàn và phải bạch tứ Kiết ma mới thành Tỳ kheo.
Bây giờ còn lại 7 hạng Tỳ kheo. Trong 7 hạng Tỳ kheo đó, tùy hành giả tự chọn. Nếu chọn hạng Danh tự Tỳ kheo thì chỉ có cái tên suông. Nếu chọn hạng Tương tợ Tỳ kheo thì cũng na ná như Danh tự Tỳ kheo. Tóm lại, ai muốn chọn loại nào thì tùy ý. Nhưng ở đây, tôi chỉ nhấn mạnh, hạng Tỳ kheo đoạn trừ kiết sử, tức Kiến đế Tỳ kheo. Bậc Tỳ kheo này do tu hành đoạn trừ phiền não kiết sử mà trở thành Tỳ kheo. Đây là một trường hợp đặc biệt. Nếu người nào tu hành đoạn trừ được kiết sử thì họ cũng gọi là Kiến đế Tỳ kheo. Nhưng chính thức nhất là nói hạng bạch tứ Kiết ma Tỳ kheo.
Khi đã trở thành Tỳ kheo thì phải biết pháp của Tỳ kheo. Nếu không biết pháp Tỳ kheo thì chỉ có danh mà không có thực. Nhưng pháp Tỳ kheo nhiều lắm. Theo Luật tạng, giữ cho đúng thì thật khó vô cùng. Nếu chúng ta để suốt cả đời mà học Luật thì chưa chắc đã hiểu hết cái ngóc ngách, tỉ mỉ của nó. Sở dĩ có nhiều ngóc ngách cũng chỉ để trừ tâm bệnh của chúng sinh. Cái nghiệp của chúng sinh nó ngóc ngách như vậy nên Phật phải chế giới tỉ mỉ để trừ nó. Thí dụ, ngồi trong chúng đánh hắng to tiếng, Phật cũng chế giới. Cuộc sống của người đệ tử xảy ra lắm chuyện cho nên Phật cũng chế Luật tương ứng. Vì vậy, học cho hết Luật cũng không dễ. Tuy vậy, mặc dầu chúng ta không thể nói nước biển quá lớn không thể uống hết nên không uống. Phật dạy, nước trong bốn biển là nhiều nhưng cùng một vị mặn. Luật của Phật cũng thế, dù đa dạng nhưng chúng ta không thể không học. Học một phần trong 250 Giới cũng biết được mùi vị an lạc của nó, đó là mùi vị giải thoát.
Muốn nếm được mùi vị giải thoát của Giới luật, nên nay tôi xin nói tóm tắt về Giới luật.
3/ Định Cọng Giới Và Đạo Cọng Giới.
Ngoài Biệt giải thoát giới có Định cọng giới và Đạo cọng giới. Như ngày xưa có một Thiền sư làm một cái cốc tu ở trên núi. Có một bà thí chủ phát tâm ủng hộ bằng cách, hằng ngày sai cô con gái đem cơm lên cúng cho Sư suốt 3 năm. Trong thởi gian ấy, mọi sự đều tốt đẹp. Mỗi lần đem cơm cúng dường trở về, bà đều hỏi con về sự tu hành của Sư. Người con gái trả lời vị Sư này tu hành tinh nghiêm, bà mẹ nghe cũng thích. Tới năm thứ 3, bà bảo con: "Này con, bữa nay phải thử lòng tu của Sư, coi có thực tu hay không. Con đem cơm lên dâng cho Sư, thọ thực xong, con giả bộ ôm Sư coi Sư phản ứng ra sao?” Người con gái làm theo lời mẹ dặn, ôm Sư, Sư trả lời: "Khô mộc hàn nham, tam niên vô lãnh noãn", nghĩa là: "Cây khô trên núi ba năm không biết lạnh nóng.”
Khi về nhà, bà mẹ hỏi con, người con gái thuật lại cho bà nghe lời Sư thốt ra. Bà nghe xong đùng đùng nổi giận. Tức quá, bà lên châm lửa đốt cốc của Sư. Vừa đốt vừa dẫm chân kêu lên: "Té ra 3 năm này uổng công phí của để cung cấp cho một cái cây khô. Thật là uổng công, uổng của quá trời?” Vị Sư thấy thế lấy làm xấu hổ, bèn đi tìm nơi khác. Chí nguyện tu hành của Sư vững vàng, nên Sư đã tìm chỗ khác để tu. Khi nghe Sư làm cốc tu lại, bà cũng phát tâm ủng hộ và Sư cũng bỏ qua chuyện cũ. Người con gái cũng hàng ngày cơm nước cúng cho Sư. Bà hỏi con về cách tu hành và hành động của Sư, người con trả lời cũng không thấy có gì cả. Sau ba năm, bà biểu con cũng làm Y như trước, coi Sư phản ứng thế nào.
Một hôm, người con gái lên cốc cúng dường xong và ôm Sư hôn. Sư nói với cô rằng: "Ta biết, ngươi biết, Phật biết nhưng đừng cho bà ấy biết.” Người con về thuật lại cho mẹ nghe. Bà mừng quá và nói: "Có thế chứ!.” Khi ấy bà khăn áo tề chỉnh, lên cốc xin sám hối với Sư và xin ủng hộ tiếp. Đó chính là Giới. Vì sao? Vì đó là Định cọng giới. Vị sư ấy không Thọ giới trong Giới đàn bạch tứ Kiết ma, nhưng do định lực mà nhiếp tâm Giới hết sức nghiêm túc không đi Bố tát nhưng giữ đầy đủ Giới luật. Cho nên chúng ta học Luật là để Giữ giới, và cũng đừng nghĩ rằng, chỉ có những người đi Bố tát mới là người giữ Luật, còn những người tu thiền, không đi Bố tát là không Giữ giới.
Chính những người nhờ tu thiền, họ Giữ giới và trì giới hơn ai hết, đó là Định cọng giới. Định cọng giới là nhiếp cả tam nghiệp vào định. Khi đã nhiếp ba nghiệp rồi thì có cái nghiệp nào dư mà đi làm bậy đâu! Thân, khẩu, ý nhiếp vào trong định thì định ấy là thân, khẩu, ý, ngoài ra không có cái thân, khẩu, ý thứ hai để mà đi làm chuyện sai quấy. Cho nên trong Luật nói về Giới, thì đó là Định cọng giới. Nên ngày nào tu thiền định thì ngày đó có Giới. Tâm được tu ngày nào thì ngày đó có định, nếu tâm không tu mà loạn tưởng thì không có Giới.
Có vị Tổ sư ngày xưa cũng đã có bài kệ phản ánh cho tâm định như sau:
Tịch tịch tinh tinh thị,
Vô tình tịch tịch phi,
Tinh tinh tịch tịch thị,
Vọng tưởng tinh tinh phi.
Nghĩa là:
Tịch tịch tinh tinh thị: là yên lặng trong sự thức tỉnh, thì đúng.
Vô tình tịch tịch phi: là vô tình mà yên lặng, là sai.
Tinh tinh tịch tịch thị: là thức tỉnh trong yên lặng mới đúng
Vọng tưởng tinh tinh phi: là thức tỉnh trong vọng tưởng, là sai.
Câu chuyện của bà già cho con gái ôm Sư, ba năm đầu mà Sư đáp: "Ta như gốc cây khô dựa vào tảng đá lạnh, qua 3 mùa đông không biết lạnh nóng", nên bà giận. Ba năm sau, cô con gái cũng ôm Sư, Sư nói: "Phật biết, ngươi biết, ta biết nhưng đừng cho bà ấy biết", bà mừng rỡ. Vị sư lúc đầu tu để thành "như gốc cây khô" đó là vô tình mà vắng lặng, nên sai. Ba năm sau, "Phật biết, ta biết, ngươi biết" là ý nói vắng lặng mà sáng suốt, là đúng. Nên bà già mừng rỡ.
Khi đức Phật chưa chế giới, các vị đệ tử tại gia và xuất gia nghe đức Phật thuyết pháp rồi thì tâm họ được viễn trần, li cấu (xa lìa trần cấu mà được con mắt pháp thanh tịnh). Pháp nhãn là con mắt pháp con mắt ấy thấy pháp Tứ đế. Cũng cần nói thêm là, con mắt hôm trước đục mờ, không thấy pháp Tứ đế khổ, tập, diệt, đạo con mắt ấy chưa thanh tịnh. Bây giờ con mắt ấy đã thấy rõ pháp Tứ đế rồi, cho nên pháp nhãn thanh tịnh, chứng được quả vị Tu đà hoàn. Chính đó là Giới, mặc dầu họ không trải qua 3 lần Kiết ma Thọ giới. Giới của các vị đó là Đạo cọng giới.
Vậy đạo cọng giới là gì? Chính là nhờ hiểu được lý Tứ đế mà phát sinh các tâm vô lậu nên không còn làm chuyện sai quấy. Những ai được tâm vô lậu, chính họ không nói mình tu Giới, mà họ chỉ quán pháp Tứ đế, quán Vô thường, Vô ngã... và chính trong khi quán, họ ngộ được đạo, không làm những chuyện sai quấy nên họ cũng được gọi là người Giữ giới tinh nghiêm, nên gọi là Đạo cọng giới.
Đức Phật Thích Ca thành đạo, 12 năm đầu, các hàng đệ tử của Phật chỉ theo pháp mà tu hành, trong đó tu thiền định là chính, tu trí tuệ là thứ. Đạo cọng giới thuộc về trí tuệ; Định cọng giới thuộc về thiền định. Tu hai pháp ấy mà vẫn ngăn được tội ác để thành tựu được Giới. 12 năm đầu Ngài chưa chế giới, như trong Luật đã nói đức Thích Ca có một bài kệ, là:
Thiện hộ ư khẩu ngôn,
Tự tịnh kỳ chí ý,
Thân mạc tác chư ác,
Thử tam nghiệp đạo tịnh,
Năng đắc như thị hành,
Thị đại tiên nhân đạo.
Nghĩa là khéo léo mà giữ miệng lưỡi lời tiếng, tự mình làm sạch tâm trí của mình và thân thể nữa cũng đừng làm ác, đó là đường sạch của ba nghiệp; khả năng đạt được đường sạch như vậy, chính là đường đi của bậc đại tiên. Hay nói một cách ngắn gọn là: Khéo giữ gìn thân, miệng, ý; đừng nghĩ bậy, đừng nói bậy, đừng làm bậy. Đó là Giới kinh của đức Thế Tôn.
4/ Nguyên Nhân Phật Chế Giới Biệt Giải Thoát.
Từ đó về sau mới phân biệt nói rộng ra là vì có một lần, Tôn giả Xá Lợi Phất thưa Phật: "Bạch đức Thế Tôn, làm sao để Chánh pháp của đức Như Lai, sau khi Như Lai diệt độ rồi, Chánh pháp ấy vẫn được tồn tại lâu dài?" Thế Tôn dạy: "Đức Phật nào mà có nói Giới, nói Pháp thì chúng đệ tử nhờ đó để tu hành, làm cho Chánh pháp được cửu trụ sau khi Như Lai diệt độ.” Khi ấy Tôn giả Xá Lợi Phất thưa với Ngài rằng: "Bạch Thế Tôn, tại sao con không thấy Thế Tôn chế giới mà chỉ nói pháp?” Ngài dạy: "Này Tôn giả, Ta biết thời phải làm gì, nay chưa tới thời nên Ta chưa chế giới. Khi nào trong Tăng chúng có việc vì danh lợi, vì hữu lậu xảy ra thì Như Lai mới chế giới.” Vì thế, 12 năm đầu chưa xảy ra chuyện gì cấu uế nên Ngài chưa chế giới.
5/ Mười Lợi Ích Của Việc Chế Giới.
Đến năm thứ 13, có xảy ra chuyện Na Đề Tử ân ái với vợ cũ, nên Phật mới bắt đầu chế giới. Trước khi chế giới, Ngài nói lợi ích của việc chế giới.
1. Nhiếp thủ ư Tăng: vì kiện toàn Tăng già thành chúng thanh tịnh.
2. Linh Tăng hoan hỉ: vì tu hành phạm hạnh nên thiện tâm tăng trưởng khiến được hoan hỉ đối với nhau.
3. Linh Tăng an lạc: vì hoan hỉ được an lạc nơi thiền định, trong tự tâm.
4. Linh vị tín giả tín: khiến người chưa có lòng tin Tam bảo, thấy chư Tăng tu hành phạm hạnh mà sinh lòng tin.
5. Dĩ tín giả linh tăng trưởng: đối với người đã tin rồi khiến lòng tin của họ tăng trưởng.
6. Nan điều giả linh điều thuận: người khó điều phục khiến họ được điều thuận.
7. Tàm quí giả đắc an lạc: khiến người biết hỗ thẹn được an vui.
8. Đoạn hiện tại hữu lậu: vì đoạn diệt hết phiền não ở hiện tại.
9. Đoạn vị lai hữu lậu: vì đoạn diệt hết phiền não ở vị lai.
10. Linh Chánh pháp cửu trụ: vì tu phạm hạnh mà Chánh pháp được tồn tại lâu dài.
Trong Luật Tỳ kheo của Nam tông cũng y như vậy:
1. Samaghasutthutàya: vì kiện toàn của Tăng già.
2. Samghaphà sutàya: vì an trụ của Tăng già.
3. Dummankuman puggalànam niggahàya: vì ức chế kẻ khác.
4. Pesalànam bikkùnam phàsuvihàya: vì an trụ của thiện Tỳ kheo.
5. Dittha dhammikanam asavanam samvaràya: vì đoạn phiền não hiện thế.
6. Samparàyikanam àsavanam patighàtàya: vì đoạn diệt phiền não ở vị lai.
7. Appasannànam pasàdaya: vì khiến chưa tin sinh tin.
8. Passannànam bhiyyobhàvàya: vì người đã tin, lòng tin thêm kiên cố.
9. Saddhammatthiliyà: vì Chánh pháp cửu trụ.
10. Vinayà nuggahàya: vì yêu chuộng, kính trọng Luật.
Đó là 10 điều ích lợi cho việc chế giới. Mỗi khi xảy ra một việc, Ngài chế một Giới và kèm theo 10 lợi ích của nó. Đó là lý do chế giới. Mười điều này trong Luật gọi là 10 cú nghĩa.
6/ Giới Thứ Nhất: Bất Dâm.
Đến năm thứ 13 đức Phật mới chế giới. Chuyện chế giới là do Tôn giả Na Đề Tử. Tôn giả là một người giàu có, sau đó từ bỏ gia đình xin theo Phật xuất gia. Trong thời gian sau, vì mất mùa, dân tình đói kém, chúng Tỳ kheo phải phân chia nhau đi các vùng chung quanh để khất thực. Tôn giả Na Đề cùng với một số Tỳ kheo đi đến vùng Tôn giả ở để khất thực. Khi đến, Tôn giả liền về quê và vào nhà khất thực. Bà mẹ thấy Tôn giả trở về, mừng rỡ, níu kéo, khóc lóc, van xin Tôn giả đừng đi xuất gia nữa. Nhưng Tôn giả không chịu. Bà mẹ khuyên lơn nhiều lần nhưng Tôn giả cứ khăng khăng từ chối. Cuối cùng bà nói với Tôn giả: "Con ơi, nhà ta giàu có, con đi tu rồi không ai nối nghiệp gia đình để lo hương khói cho tổ tông ông bà. Mẹ cũng đã già rồi, không có ai tâm sự hôm sớm. Thôi thì con có đi thì đi, nhưng hãy để lại cho mẹ một đứa cháu rồi hãy đi.” Thương mẹ nên Tôn giả đành chìu mẹ, và nghĩ: "Cùng với vợ cũ ân ái một chút có sao đâu!.” Thế là bà dắt con dâu tới cho Tôn giả và Tôn giả cũng thấy không có gì rắc rối cả. Tôn giả nghĩ: đi tu thì cứ đi, miễn là để cho bà một chút cháu nội cho bà yên lòng là được. Xong chuyện là Tôn giả ra đi, thậm chí sau đó sinh con, Tôn giả cũng chả hay. Từ khi xảy ra chuyện giữa Tôn giả và vợ cũ rồi, một thời gian sau thấy các vị Tỳ kheo khác không có chuyện ân ái, sao mình lại để cho chuyện vợ cũ ràng buộc? Tôn giả bức rức trong lòng và tỏ ra khó chịu, ân hận. Các vị khác Tỳ kheo hỏi: "Tại sao thời gian đầu hiền giả hoan hỉ, sắc diện tươi tốt mà nay thấy ủ rũ quá vậy?” Tôn giả đem chuyện đó kể cho các vị Tỳ kheo hay.
Các vị Tỳ kheo đem chuyện của Tôn giả bạch lên đức Thế Tôn. Thế Tôn kêu lên quở trách.
Bắt đầu từ đó Phật mới chế giới thứ nhất là hàng xuất gia thì không được dâm dục. Và trước khi chế giới, Ngài nó rõ mười công đức lớn của việc chế giới.
7/ Giới Thứ Hai: Bất Đạo.
Nguyên do là có một vị Tỳ kheo Đàn Ni Ca, nguyên là con thợ gốm, làm cái chòi bằng tranh trên núi để ở. Những người đi lượm củi, họ thấy chòi vắng nên họ đến dỡ đi và lấy củi tranh về nấu cơm. Khi về thấy chòi bị dỡ, Tôn giả bèn nghĩ là nên làm bằng vật liệu chắc chắn hơn. Suy nghĩ như vậy, Tôn giả liền làm chòi kiên cố bằng đất nung đỏ chói. Đức Phật trông thấy hỏi, các Tỳ kheo khác bạch cho Ngài hay. Ngài liền sai người kêu vị Tỳ kheo ấy lại và hỏi có việc Thầy làm chòi kiên cố trên phải không? Vị Tỳ kheo ấy xác nhận. Đức Phật bảo Thầy nên dỡ bỏ đi, nhưng Tôn giả trù trừ không muốn dỡ bỏ. Đức Phật sai các Tỳ kheo đến dỡ bỏ căn chòi đó.
Tôn giả không phản ứng gì nhưng lại có ý làm cái cốc khác. Tôn giả bèn đến nhà người giữ cây cho vua và nói rằng: Này anh kiểm lâm, vua Bình Sa có hứa cho tôi dùng cây này để tôi làm cốc tu. Anh kiểm lâm nói: nếu đã có lệnh vua thì Thầy cứ lấy. Thế là Tôn giả vác rìu đến đốn cây và xả lung tung. Cây bị đốn ngã nghiêng thành từng khoảnh. Hôm sau có quan triều đình đi kiểm tra thấy cây cối chặt bỏ lung tung, kêu anh kiểm lâm đến hỏi duyên cớ, anh kiểm lâm bèn thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Quan triều đình cho mời Tôn giả lên và hỏi về tội đốn cây quý của nhà vua mà không được phép của quan triều đình. Tôn giả bèn trả lời rằng: Trước khi lên ngôi vua, nhà vua có nói rằng, những gì có trong nước chúng tôi, các vị xuất gia tu hành biết thiểu dục tri túc nếu có cần dùng thì cứ lấy dùng. Vua có tuyên bố như vậy nên tôi mới lấy dùng. Quan triều đình nói rằng: Vua chúng tôi có nói vậy thật, nhưng mà những vật không có chủ giữ kia, còn những đồ vật có chủ, thì vua chúng tôi không cho phép.
Câu chuyện rắc rối được các Tỳ kheo về bạch Phật. Phật mới chế giới "bất dữ nhi thủ", (người ta không cho thì không lấy). Khi ấy Thế Tôn quay qua hỏi một vị Tỳ kheo, trước khi xuất gia, nguyên là quan triều đình rành pháp Luật của vua, theo Luật vua, lấy đến ngang nào thì bị tội và ngang nào thì không bị tội? Tôn giả đáp: Theo con biết, thì như Luật pháp trong nước này, nếu lấy độ năm tiền thì bị tử hình, còn nếu dưới thì tùy đó xét xử dưới mức tù tội. Từ đó Phật chế giới: nếu ăn cắp, lấy trộm của người khác 5 tiền thì bị trọng tội.
8/ Giới Thứ Ba: Bất Sát.
Phật dạy các Tỳ kheo tu phép quán Bất tịnh để dứt lòng ái dục. Một số Tỳ kheo ở tại vườn bên sông Bà Cừu chuyên tu theo phép quán Bất tịnh. Khi quán thân Bất tịnh, thấy thân thể của mình hôi hám chịu không nổi, là một ổ vi trùng sống nhung nhúc lại càng nhàm chán hơn, cho nên muốn hủy diệt thân, mới nói: Ai giúp cho tôi giải thoát thân này thì được phước lớn. Tỳ kheo Vật Lực Già Nan Đề thuộc chủng tánh Sa môn mới xuất gia, nghe nói vậy liền cầm dao sát giúp. Khi sát xong rồi, ông ta liền cầm dao xuống sông rửa. Khi rửa dao, thấy bóng mình phản chiếu dưới nước dữ tợn quá nên ông ta đâm ra ân hận nghĩ rằng: Mấy vị Tỳ kheo kia có tội tình gì mà mình ra tay tàn sát các ông, mặc dầu có lời yêu cầu. Lúc ấy Ma vương biết ý liền hiện lên đứng trên nước và ca ngợi rằng: "Ồ Hiền giả, lành thay, Hiền giả đã làm cho người chưa độ được độ; Hiền giả đã làm một việc đại phước đức, đó là một công đức lớn. Hiền giả hãy ra tay cứu độ cho những ai muốn giải thoát thân ngũ uẩn hôi hám này, công đức thật vô lượng.” Nghe vậy ông yên tâm, xách dao về và hô to: "Hỡi các Hiền hữu, ai muốn lìa thân ngũ uẩn để giải thoát, muốn độ thoát sinh tử, đến đây tôi độ cho.” Thế là ông phơ luôn một số nữa!
Thường lệ, sau mùa An cư, các vị Tỳ kheo kéo nhau về vấn an sức khỏe đức Thế Tôn, như con về thăm cha sau 3 tháng xa nhà. Khi về hầu Phật, bao giờ Phật cũng niềm nở đón tiếp đệ tử và Ngài hỏi An cư có an lạc không, có hòa hợp không, khất thực có dễ dàng không, đi đường có trở ngại gì không... như cha thân mật hỏi con.
Nhưng mùa An cư này, Ngài thấy đệ tử các nơi về thưa thớt quá. Ngài đợi mãi đợi hoài không thấy họ trở về. Phật sai các vị Tỳ kheo đi thăm dò nghe ngóng coi họ có bị gì không? Các vị Tỳ kheo đi ra khỏi Tinh xá, thì ở ngoài đường, thiên hạ đồn ầm cả lên rằng: "Không biết mấy ông Thầy tu theo pháp môn nào mà giết nhau nằm la liệt cả khu rừng, hôi thối không ai chịu nổi.” Các vị nghe nói liền đến nơi xem thì thấy có chuyện như vậy. Các Tỳ kheo về bạch Phật. Phật bảo: Ta dạy Chánh pháp, họ hành tà pháp. Từ đó Ngài khuyên các vị Tỳ kheo đổi pháp quán Bất tịnh ra quán sổ tức để dẹp trừ phiền não, chứ không nên quán Bất tịnh đâm ra bi quan mà hủy hoại thân mình như các Tỳ kheo kia đã làm. Từ đó Ngài chế ra Giới bất sát.
Tóm lại, học Phật pháp, hành Phật pháp, nếu làm không đúng, hiểu không đúng cũng dễ đưa đến kết quả tai hại. Trái lại, không hiểu Phật pháp, không áp dụng Phật pháp vào cho bản thân và xã hội, cũng là một thiệt thòi lớn.
Ví như người bắt rắn trong kinh Xà Dụ có kể: "Một người bắt rắn mà không biết cách bắt nó, cứ cố bắt đằng đuôi, hay giữa thân rắn, nó có thể quay đầu lại cắn và có thể gây tử vong. Muốn bắt rắn, cần phải lấy cái nạng đôi đè đầu cho cứng là rắn chịu phép, mặc cho đuôi quẫy sao đó thì quẫy, không ảnh hưởng gì. Cũng vậy, tu học Phật pháp cũng phải biết phương pháp, như cách bắt rắn vậy.”
Hoặc như trong kinh Bách Dụ kể chuyện "Ăn trộm áo vua.” Có một anh chàng nghèo ăn trộm áo vua. Triều đình cho quan quân đi lùng sục khắp nơi và bắt được nó. Nó kêu oan và nói là áo của tổ tiên để lại. Quan nói nếu áo của tổ tiên anh để lại thì anh mặc vào xem. Áo vua quá rộng nên nó không biết mặc. Thấy tay áo rộng như ống quần, nó liền đưa chân vào hai tay áo. Mặc hoài không xong nên lòi ra nói láo. Quan hỏi, áo tổ tiên sao anh không biết cách mặc? Như vậy, nếu không biết sử dụng thì dầu có áo vua đi nữa cũng mang họa vào thân mà thôi. Pháp và Luật của Phật có vi diệu đến đâu, nếu không biết tu tập và hành trì đúng thì cũng chả có ích lợi gì!
9/ Giới Thứ Tư: Bất Vọng Ngữ.
Tại sao Phật chế giới này? Trong thời đức Phật, Ấn Độ chưa phải là nước đã đầy đủ luơng thực cho dân chúng hết đâu. Gặp lúc mất mùa hạn hán, chư Tăng khất thực khó khăn nên đành phải phân tán nhỏ để khất thực. Tại một thôn nọ, có một nhóm Tỳ kheo, bàn bạc và tìm cách đánh lừa tín chủ bằng cách, một người nói mình đã chứng A la hán, được thượng nhân pháp, thần thông tự tại, còn người kia phụ họa vào nói đó là việc tôi đã biết ông ta có thần thông... nếu cúng dường cho ông thì được phước vô lượng. Thế là họ ca ngợi nhau, nên bổn đạo thi nhau cúng dường. Một mùa hạ trôi qua được no đủ.
Sau mùa An cư, đệ tử lần lượt về hầu Phật, ai cũng xanh xao, duy có nhóm mấy Thầy Tỳ kheo thôn nọ, khi về hầu Phật thì béo tốt, Phật hỏi: Các Thầy An cư có an lạc không? Họ trả lời an lạc. Còn khất thực ra sao? Họ trả lời khất thực dễ lắm. Ngài ngạc nhiên hỏi: Tại sao Thế Tôn thấy mấy Thầy đến trước về thăm Ta, Ta hỏi khất thực thì họ trả lời khó lắm, nhưng vẫn giữ thiểu dục tri túc, còn các Thầy sao lại khất thực dễ quá vậy? Thế là họ đành phải thú nhận sự nói dối của mình. Thế Tôn quở trách nhóm đệ tử nọ và Ngài chế ra Giới này. Cấm các hàng Tỳ kheo đệ tử của Như Lai đại vọng ngữ; chưa chứng nói chứng, chưa thấy nói thấy pháp.
Cứ như thế, hễ xảy ra một chuyện, Phật chế ra một Giới và Ngài đã chế ra 250 Giới cho Tỳ kheo, 350 Giới cho Tỳ kheo ni, kết thành bộ Luật gọi là Luật tạng. Những Giới của Phật chế ra cũng gọi là Biệt giải thoát giới hay Ba la đề mộc xoa. Vì sao gọi là Biệt giải thoát? Vì ai Thọ giới nào thì có sự giải thoát của Giới đó, có sự lợi ích của việc Thọ giới ấy. Thí dụ, Cư sĩ tại gia thọ 5 Giới thì sẽ đem lại lợi ích của 5 Giới do mình thọ. Mười Giới có lợi ích của mười Giới, 250 Giới có lợi ích của 250 Giới, nên gọi là Biệt giải thoát.
Khác với định cọng giới, đạo cọng giới là biệt biệt giải thoát giới, tức là Giới Ba la đề mộc xoa. Chính Ba la đề mộc xoa kết lại thành một bộ Luật, gọi là tạng Luật.
10/ Giới luật.
Chữ Giới luật thường thường được dành cho hàng xuất gia và tại gia đệ tử của đức Phật thọ trì để đem đến an lạc cho bản thân và cho xã hội, công đức của nó vô lượng. Vậy nghĩa của nó là gì?
Chữ Luật có 4 tên gọi:
1. Tỳ ni (tức Tỳ nại da Vinaya), dịch là Luật hay điều phục. Điều phục những sự sai trái nơi thân, khẩu, ý. Nó cũng có nghĩa là diệt (dứt phiền não). Diệt có nghĩa là nhờ Giới này mà chứng được diệt đế, diệt quả.
2. Mộc xoa, tức Ba la đề mộc xoa (Pràti moksa), dịch là Biệt giải thoát.
3. Thi la (Sìla), dịch là Giới.
4. Upalaksa, dịch là Luật.
Thường thường ta hiểu Giới là Luật, Luật là Giới. Nhưng tại sao một chữ mà nói ra hai như thế? Nếu Giới là Luật, Luật là Giới, sao không gọi là Giới tạng mà lại gọi là Luật tạng? Vì Giới chưa hẳn có Luật mà Luật thì phải có Giới. Giới luật Y như là một thang thuốc là vì Giới là dược tánh, Luật là phương thang. Bất sát như là Thục địa, bất đạo là Kiết cánh, bất dâm là Đổ trọng... mỗi Giới như là một vị thuốc. Dược tính có tính cách đắng, màu của nó đen, có mùi thơm, có tính cách dẫn hỏa, có tính công phá và bồi bổ từng bệnh riêng, đó là dược tính của nó. Trong đạo, đó chính là Giới, còn Luật là phương thang. Chính Luật tạo ra từng phương thang một, có thang ngũ vị để dành cho Cư sĩ uống (năm Giới), có thang bát vị để Cư sĩ tu thêm (Bát quan trai Giới), có thang thập vị để mấy vị Sa di dùng (mười Giới dành cho Sa di), có thang 250 vị để cho mấy vị Tỳ kheo dùng (250 Giới của Tỳ kheo). Nếu uống thuốc đó vào mà trở bệnh thì sao? Xử lý cách nào? Tóm lại, Giới là dược tánh, Luật là phương thang. Giới là điều răn, Luật là qui Luật thi hành Giới. Không có Luật thì Giới không có cách thi hành.
11/ Bốn Khoa Của Giới.
Giới có 4 khoa lớn: Giới pháp, Giới thể, Giới hạnh và Giới tướng.
a. Giới pháp:
Giới cũng là một pháp do đức Phật chế ra nên Giới cũng gọi là Pháp, Luật cũng là Pháp; do Phật chế nên đó là Pháp của Phật. Vì vậy khi ta nói Phật pháp là gồm cả Giới trong đó nữa, chứ không phải nói pháp là pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Bát chánh đạo... mà thôi đâu. Pháp có nghĩa như vậy nên gọi là Giới pháp.
b. Giới thể (nạp thọ pháp thành thể):
Khi Pháp có được Tam sư, Thất chứng, bạch tứ Kiết ma, đưa nó vào trong người Giới tử thì nó biến thành Giới thể của người Giới tử, gọi là Giới thể.
Thí dụ: Như là trong khi Thọ giới, vị Thầy Kiết ma bạch tứ Kiết ma rằng, tôi xin hỏi các vị ngày hôm nay, có vị đó tên như vậy, như vậy... xin theo Hòa thượng tên như vậy, như vậy thọ Cụ túc giới. Nếu Tăng chúng ai bằng lòng cho vị ấy Thọ giới Cụ túc thì cứ im lặng, ai không bằng lòng thì nói lên. Ba lần Kiết ma như thế là Giới thể được thành tựu nơi ông Giới tử. Đó là thọ thể, tức thọ nhận cái Giới thể nên gọi là thọ thể Giới, Giới được thành tựu nơi ông Giới tử.
c. Giới hạnh.
Từ nơi Giới thể mà phát ra cử chỉ, hành động, nói năng đều Y như pháp, tức là tùy thuận Giới thể mà các hành vi của 3 nghiệp thân, khẩu, ý đều hành động Y như pháp. Chúng ta quan sát kỹ, một người khi họ chưa Thọ giới thì nói năng, hành động khác; khi họ đã Thọ giới rồi, hành động, nói năng lại càng khác hơn. Là vì do có Giới hạnh nên hình tướng và oai nghi khác đi, gọi là Giới hạnh.
d. Giới tướng.
Hành trì giới luật có oai nghi hiện tướng ra bên ngoài, ai trông thấy cũng biết được, đó gọi là người có Giữ giới.
Nói về Giới thể thì có 3 quan điểm:
- Theo quan điểm của các bộ phái Phật giáo ngày xưa, chỉ quan niệm Giới thể chung chung thế thôi. Phái Nhất thiết hữu bộ chủ truơng Giới thể thuộc sắc pháp, lấy sắc pháp làm Giới thể; bởi lẽ, một người thành tựu được Giới là phải đối trước Tam sư, Thất chứng, chính tự mình thân quỳ lạy, miệng nói, trả lời câu hỏi mới thành được. Nếu không lạy, không quỳ, không dùng cái thân này tỏ bày cái tướng lãnh thọ giới điều thì không thành Giới thể được. Mà thân này là gì? Là tứ đại sắc thân. Lấy tứ đại sắc thân đối trước Tam sư, Thất chứng mà Thọ giới thể, cho nên Giới thể đó thuộc về sắc pháp. Đó là quan điểm của Hữu bộ. Vì vậy, quan điểm của Hữu bộ cho Giới thể thuộc về Vô biểu sắc. Vô biểu sắc là một thứ sắc không biểu hiện cho người ta thấy được, nó là một pháp vô hình nhưng thuộc về sắc. Theo Hữu bộ, nó thuộc về sắc ấm, sắc uẩn chứ không phải thuộc các uẩn khác. Giới thể theo Hữu bộ là sắc pháp.
- Theo Đại thừa Duy thức thì Giới thể thuộc về tâm pháp, vì sao? Vì theo Duy thức, người ta có hai thứ nghiệp, là tư nghiệp và tư dĩ nghiệp. Tư nghiệp là nghiệp của ý. Thí dụ, mình nghĩ phải bố thí cho kẻ nghèo, sự suy nghĩ đó nó đang còn trong tâm chứ chưa hiện ra ngoài. Chính sự suy nghĩ đó cũng là cái nghiệp sau khi suy nghĩ, nó phát ra miệng nói, tay cầm vật cho kẻ nghèo, như vậy gọi là tư dĩ nghiệp.
Tư có ba: là Thẩm lự tư, tức suy nghĩ, tính toán; Quyết định tư, tức đã quyết định, và Phát động tư, là từ quyết định phát động ra ngoài, gọi là Phát động tư. Vì vậy, theo Đại thừa Duy thức thì khi một người nào đó đã phát động ra trước Tam sư, Thất chứng, ví dụ nói: Tôi xin giữ được Giới ấy... cái phát động ấy chính là do cái tư, cái mà anh suy nghĩ và nói ra, nếu không có cái tư ấy thì làm sao anh nóì tôi xin giữ được? Cho nên, Đại thừa Duy thức nói Giới thể thuộc về tâm pháp chứ không thuộc về sắc pháp.
c. Phái Thành thật luận cho rằng, Giới thể phi sắc phi tâm, bởi nó không trông thấy, làm sao nói là sắc? Thứ nữa, nó không có duyên lự, làm sao nói tâm được, nên nói là phi sắc phi tâm. Nó chỉ là một cái năng lực ngấm ngầm bên trong, có tác dụng ngăn chặn việc làm sai trái của người định làm. Thí dụ, người Thọ giới Cụ túc rồi, mỗi năm đến mùa An cư phải nhập hạ, song có lúc có người không muốn An cư, nhưng sức mạnh ngấm ngầm của Giới biểu họ phải An cư, đó là chuyện nên làm. Tóm lại, đó là một năng lực phi sắc phi tâm. Dù nói cách nào, như chủ trương nó thuộc sắc pháp, dầu thuộc tâm pháp, dầu thuộc phi sắc phi tâm thì cũng là một cái năng lực vô hình có năng lực phòng phi chỉ ác ngăn điều quấy, dứt điều ác.
Tóm lại, 250 Giới nhìn thì nhiều, nhưng chỉ có nghĩa là phòng phi chỉ ác. Nói cách khác, muốn áp dụng Giới trong đời sống hàng ngày thì phải hiểu cách thực hành của nó, đó là chỉ trì và tác trì Chỉ trì giới là Giới ngăn dứt, không làm. Thí dụ, phát nguyện giữ 5 Giới, đó là do tự phát nguyện. Nếu không sát sinh hại mạng thì đã là trì giới, ngược lại, sát sinh là phạm. Hai trăm năm mươi Giới của đức Phật chế, trừ chúng học pháp ra, có một phần trì, một phần chỉ. Tác trì giới tức là những điều đáng phải làm mà làm thì gọi là trì; ngược lại không làm là phạm. Ví dụ: Khi đến mùa An cư mà An cư là trì, không An cư là phạm, nên gọi là tác trì giới.
12/ Biệt Giới, Thông Giới.
Giới của Phật chế có Biệt giới và Thông giới.
a. Biệt giới là Giới của hàng xuất gia, Giới của hàng Thanh văn. Thí dụ: Hàng xuất gia nếu là Tỳ kheo thì phải thọ 250 Giới, Sa di là 10 Giới, còn Cư sĩ là thọ 5 Giới... Có phân biệt rõ ràng như vậy gọi là Biệt giới. Cư sĩ không thể thọ 250 Giới. Riêng đối với Ni cũng vậy. Sa di ni cũng thọ 10 Giới, không được quá. Thức xoa ma na 6 Giới, không được quá. Tỳ kheo ni 350 Giới mà thôi, nên gọi là Biệt giới.
b. Thông giới tức là Bồ tát giới, ai thọ cũng được. Sa di, Cư sĩ, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa, Sa di ni, có bệnh không bệnh, dù thân căn không hoàn chỉnh thọ cũng được. Điều kiện để thọ là nghe tiếng, hiểu nghĩa Pháp sư truyền là được thọ; trái lại, trong Luật Tỳ kheo, nếu ai bị dị tật thì không được thọ. Vì vậy, Bồ tát giới gọi là Thông giới, còn Luật Tỳ kheo, Sa di... gọi là Biệt giới. Thông giới có tính cách vĩnh cữu, còn Biệt giới chỉ có tận hình thọ mà thôi. Giả sử hoặc có chết, hoặc thay đổi nam thành nữ tánh thì tự nhiên mất Giới, mặc dù tâm không mất, nhưng hình tướng đã mất thì Giới cũng mất, đó là không kể xả Giới. Còn Giới Bồ tát thì tùng kim thân cho tới Phật thân, tức cho đến thành Phật, Giới đó không mất. Chỉ mất Giới khi nào cố ý bỏ Bồ đề tâm, bỏ Bồ tát hạnh, phạm Trọng giới mới mất. Còn có phạm Khinh giới vẫn được sám hối. Vì vậy, người giữ Bồ tát giới dầu có đọa Địa ngục, có lên thiên đường, có phạm năm lần bảy lượt đều có thể sám hối, miễn là chủng trí Bồ đề tâm vẫn còn.
Lúc đức Phật sắp Niết bàn, các hàng đệ tử tỏ ý lo lắng, sợ đức Thế Tôn nhập Niết bàn rồi không ai dìu dắt chúng đệ tử. Đức Phật mới dạy rằng, Pháp và Luật mà Ta đã dạy cho các ngươi, chính đó là Đạo sư của các ngươi. Trong kinh Di Giáo, đức Phật dạy: "Nhữ đẳng Tỳ kheo, ư ngã diệt hậu, đương tôn trọng trân kính Ba la đề mộc xoa, như ám ngộ minh, như bần nhân đắc bảo. Đương tri thử tắc thị nhữ đẳng đại sư. Nhược ngã trú thế, vô dị thử dã.” Nghĩa là: "Các Thầy Tỳ kheo, sau khi Ta diệt độ, các Thầy phải tôn trọng tôn kính Tịnh giới, như ở chỗ mù tối mà được ánh sáng; nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết Tịnh giới là đức Thầy cao cả của các Thầy. Nếu Ta ở đời thì cũng không khác gì vậy.” Đó là lời dạy thứ hai. Lời dạy thứ ba là: "Các ngươi hãy tinh tiến lên để giải thoát.”
Nói về lời dạy Pháp và Luật trong giáo lý đức Phật, chúng ta phải biết Pháp là gì và Luật là gì? Pháp tức là Giáo pháp. Thí như Ngài dạy về lý Vô thường, Vô ngã, Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Bát chánh đạo, Giới, Định, Tuệ... gọi là Pháp. Pháp ấy có mục đích hướng dẫn cho chúng sinh tu hành để thành đạo, để giác ngộ. Luật là gì? Luật là những điều răn cấm, những quy tắc, những Luật lệ để hành trì, áp dụng cho đời sống cá nhân và tập thể. Pháp kết tập lại thành Kinh tạng, Luật kết tập lại thành Luật tạng.
Sau khi đức Phật nhập diệt, lần kiết tập đầu tiên là kiết tập Kinh tạng và Luật tạng. Bây giờ chúng ta nói kiết tập Tam tạng là nói chung, nhưng lúc đầu chủ ý kiết tập là thành Kinh tạng và Luật tạng, hai chữ này nó mang một ý nghĩa rất lớn. Cả Kinh tạng tóm lại trong một chữ Pháp mà thôi; cả Luật tạng thành một chữ Luật mà thôi. Cho nên Ngài không nói Ta để lại Kinh tạng, Luật tạng cho các ngươi, mà Ngài nói: Ta để lại Pháp và Luật cho các ngươi. Các ngươi hãy lấy đó làm bậc Đạo sư của mình. Ta có ở đời cũng không khác.
13/ Thế Tôn Diệt Độ.
Khi đức Phật nhập Niết bàn ở tại rùng Kusinara giữa Ta la song thọ, Tôn giả Ma ha Ca Diếp cùng một số Tỳ kheo rất đông đang đi du hóa và hành đạo ở phương xa. Số đệ tử này do Phật độ sau 45 năm hành đạo và thuyết pháp, một số khác do các đệ tử Ngài thâu nhận vào nhập chúng cũng khá đông. Các đệ tử của Ngài ở rải rác khắp mọi nơi. Riêng Tôn giả Ma ha Ca Diếp với một số Tỳ kheo ở phương khác như xứ Pava, nhân ngày đó cùng đi về thành Kusinara. Giữa đường, gặp một người ngoại đạo cầm một cái hoa nơi tay, Tôn giả liền hỏi: Hiền giả từ đâu đi lại? Ông trả lời: tôi từ Kusinara đến. Vậy Hiền giả có biết Như Lai, Thế Tôn của chúng tôi ở đâu không? Như Lai, Thế Tôn của các ông đã nhập diệt rồi. Chính tôi ở nơi chỗ nhập diệt của Ngài mà lượm cái hoa này đây. Nghe nói như vậy, các vị A la hán thì bình tĩnh yên lặng, nhưng các vị chưa đạt đến quả vị A la hán tâm lý xúc động mạnh. Có vị ưu phiền, có vị ré lên, đấm ngực khóc lóc.
14/ Tân Tỳ Kheo Bạt Nan Đà Vui Mừng.
Trong số này có một Thầy Tỳ kheo tên là Bạt Nan Đà khi nghe tin Thế Tôn diệt độ, mừng rỡ liền nói: Này các Hiền giả, lý đáng ra khi nghe tin này, các Hiền giả phải vui mừng, sao lại khóc lóc? Khi ông Đại Sa môn còn sống, ta cứ bị ràng buộc theo ông. Ông cứ bảo nên làm như thế này, thế nọ; không nên làm như thế này, như thế nọ. Ông Đại Sa môn cứ nhắc nhở hoài, phiền toái quá? Bây giờ ông Đại Sa môn quá vãng rồi, thì chúng ta được sống tự do. Cái gì ta ưng thì ta làm, cái gì ta không thích thì ta không làm. Chúng ta được sống tự do theo ý chúng ta.
(Tôi đọc cuốn Văn minh Ấn Độ của Durand, ông có nhắc chuyện Tỳ kheo Bạt Nan Đà và có nhận xét thêm: Tương lai trong hàng đệ tử của Phật, những người tu theo Bạt Nan Đà đông hơn theo Phật, có lẽ cũng đúng!)


Tuesday, 29 November 2011

Không Sát Sanh -



Không Sát Sanh, Tôn Trọng Sự Sống.
--- o0o ---
Tham sống sợ chết, đó là sự thật của người đời. Thế nhưng tại sao lại giết hại, cắt đứt sự sống của chúng sanh khác? Trong bài viết ngắn này chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề "Không sát sanh" hay "tôn trọng sự sống" như là thái độ sống của một người Phật tử.
Đức Thế Tôn luôn luôn tôn trọng sự sống của kẻ khác, vì thế trong năm giới cấm của một người Phật tử hay mười giới cấm của Sa-Di giới "không được sát sanh" đã được Đức Thế Tôn đưa lên hàng đầu. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Ngài rất quan tâm đến sự sống của chúng sanh. Ngài dạy về năm nguyên nhân chất chứa nhiều phi công đức của sát sanh để tránh: "Này Jivaka, nếu người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai, giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân. Khi người ấy nói như sau: "Hãy đi và dắt con thú này đến", đó là nguyên nhân thứ nhất, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Con thú ấy bị bắt đi, vì bị lôi kéo nơi cổ, nên cảm thọ khổ ưu, đó là nguyên nhân thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi nó nói như sau: "Hãy đi và giết con thú này", đó là nguyên nhân thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi con thú ấy bị giết cảm thọ khổ ưu, đây là nguyên nhân thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử Như Lai một cách phi pháp, đó là nguyên nhân thứ năm, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Này Jivaka, nếu người nào vì Như Lai hay đệ tử Như lai giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân này" (Kinh Jivaka-Trung Bộ II).
Và Ngài đã chỉ rõ về lẽ sống công bằng là đừng làm tổn hại người khác những gì mình không muốn làm cho mình: Mọi người sợ hình phạt. Mọi người sợ tử vong. Lấy mình làm ví dụ" Không giết, không bảo giết".Mọi người sợ hình phạt. Mọi người thương sống còn.
Lấy mình làm ví dụ. "Không giết, không bảo giết" (Pháp Cú 129-130).
Nếu sát sanh thì con người ngoài việc chịu khổ đau trong hiện tại, còn phải nhận lãnh quả báo khổ đau đời sau nữa: "Này các Tỳ Kheo, nếu sát sanh được thực hiện, được luyện tập, được làm cho sung mãn thì sẽ đưa đến địa ngục, đưa đến loài bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Nếu quả dị thục hết sức nhẹ của sát sanh là được làm thân người với tuổi thọ ngắn" (Kinh Tăng Chi III) và: "Này gia chủ, sát sanh, do duyên sát sanh tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ ưu". (Kinh Tăng Chi III).
Sát sanh ở đây không phải chỉ là ý nghĩa dùng dao gươm giết hại các loài sinh vật mà còn có ý nghĩa gây tàn hại sự sống của côn trùng và cây cỏ. Ngài dạy các vị Tỳ Kheo rằng: "Và còn lại đồ ăn dư thừa này của Ta cần phải quăng bỏ. Nếu các ông muốn, hãy ăn. Nếu các ông không muốn ăn, sẽ quăng bỏ đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ nhận chìm trong nước không có các loài côn trùng".(Kinh Thừa Tự Pháp-Trung Bộ).
Và như một người ngoại đạo, Brahmadatta, đã tán thán nếp sống của Như Lai. "Trong khi có một số Sa Môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống làm hại các hạt giống từ rễ cây sanh, hạt giống từ nhánh cây sanh, hạt giống từ đất sanh, hạt giống từ chiết cây sanh và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh. Còn Sa Môn Gotama thì không làm hại hạt giống hay cây cối nào". (Kinh Phạm Võng-Trường Bộ I).
Hai đoạn trích dẫn này cùng lúc giới thiệu ý nghĩa tôn trọng sự sống của cả loài thảo mộc, cây cối thiên nhiên và ý nghĩa bảo vệ môi sinh của đức Thế Tôn và các đệ tử của Ngài. Đây cũng là một vấn đề nóng bỏng của thời đại: Môi trường sinh thái toàn cầu đang bị ô nhiễm nặng bởi các phóng xạ, bức xạ, bởi nạn phá rừng, bởi các chất độc thải ra từ các nhà máy, bởi chiến tranh v...v... và các nước đang kêu gọi quần chúng bảo vệ môi trường sống.
Những lời đức Phật dạy cách đây 26 thế kỷ vẫn mãi mãi cần thiết cho thế giới. Nói cách khác, "Không sát sanh" hay "Tôn trọng sự sống" là những gì mà con người hiện tại cần thực hiện, nếu không muốn thấy thế giới đi đến hủy diệt vì nạn ô nhiễm môi sinh trầm trọng đang tiếp tục diễn ra.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).

Phương Pháp Đối Trị Tánh Dâm - Sex: Nature and Conversion

Tình dục như một vết ngứa, thà không có vết ngứa ấy thì hơn. Nếu không chúng ta phải cào đến xước da.
Long Thọ Tổ Sư



The Buddha in everything he said about sex implies... The activity of sex will never ultimately satisfy the desire for sex.



ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ SỰ VIỄN LY SINH TỬ

HÃY CHÂN THÀNH VỚI NHỮNG KHUYNH HƯỚNG CỦA CHÚNG TA

Hầu hết những ai đến tiếp xúc với Đạo Phật, nếu họ thẩm tra chính họ một cách chân thật, thì họ đang thật sự nhắm đến điều gì? Hầu hết mọi người không thật sự đang hướng đến cho sự giác ngộ. Họ ngay cả không đang hướng đến cho sự giải thoát. Hầu hết mọi người chỉ muốn làm cho hoàn cảnh luân hồi – đời sống thường lệ mỗi ngày của họ - khá hơn [không nhiều thì ít].

Thấu hiểu mối quan hệ giữa nhân quả hành vi, nguyên tắc vận hành của nghiệp báo: liên hệ giữa thái độ chúng ta và cấp độ của hạnh phúc hay khổ đau mà chúng ta sẽ trãi qua như một hậu quả. Không có sự tin chắc trong mối quan hệ ấy, thì không có lý do nào để đi theo hệ thống đạo đức của Phật giáo.

THÁI ĐỘ TÀN PHÁ VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ



ĐỘNG CƠ CỦA THÁI ĐỘ TÌNH DỤC
kích thích tố tình dục (sexual hormone).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).

Giới Luât: Không Trộm Cắp - Do Not Steal



Đề tài: Giới cấm Trộm Cắp
Ngày: 24 -11- 2010
Nơi: đạo tràng Đạo Phật Vào Đời
Giảng Sư: Thích Minh Tâm




Outline:


1. Giới là gì ? Mục đích ? Hoạt động ?
2. Giới Trộm Cắp:
- Định nghiã
- Các loại:
- Xã hội, cá nhân, cộng đồng
- Biến tướng
- Nhân Quả
- Duyên Sinh
3. Những vấn đề thực tế giưã Giới Trộm cắp và những giới khác
4. Gìới luật và Bát chánh đạo
5. Liên Hệ giữa Giới và Tâm


Chương I
THẾ NÀO LÀ TẠNG LUẬT?
Tạng Luật - Giới Luật và những Qui tắc tiến hành dành cho Tăng Đoàn
Tạng Luật được hình thành từ những điều luật được đặt ra để chỉnh đốn đạo đức tác phong của chúng đệ tử Đức Phật, những người đã được chấp nhận như tỳ khưu, tỳ khưu ni vào Tăng Đoàn. Những luật nầy gồm cả những pháp lệnh có căn cứ của Đức Phật về những phương thúc tác phomg và thu thúc những hành động về cả thân và khẩu. Chúng đề cập đến việc vi phạm giới luật, và có nhũng trườnợp hợp khác nhau của thu thúc và sự khiển trách tuỳ theo tính chất của tội.
(a) BẢY LOẠI TỘI VI PHẠM (tội) - Āpatti
Những điều luật đầu tiên được Đức Phật đặt ra gọi là Mūlapaññatti (quy định cơ bản); những điều được bổ sung sau gọi là Anupaññatti. Cùng với chúng được gọi là những điều học (sikkhāpada). Hành động vi phạm những điều luật nầy, do đó tỳ khưu có tội phải chịu hình phạt nào đó gọi là Āpatti, nghĩa là ' đụng đến, phạm '
Những tội có hình phạt được đặt ra có thể được xếp loại dưới bảy phạm trù tuỳ theo tính chất của chúng:
Bất Cọng Trụ (Pārājika)
Tăng Tàn (Sanghādisesa)
Trọng Tội (Thullaccaya)
Ưng Xả Đối Trị (Pācittiya)
Ưng Phát Lộ (Pātidesanīya)
Tác Ác (Dukkaṭa)
Ác Ngữ (Dubbhāsita)
Tội trong phạm trù thứ nhất là tội Bất Cọng Trụ, được xếp loại như trọng tội (garukāpatti), không thể chữa được (atekicchā), sau đó buộc người phạm tội phải rơi khỏi Tăng Đoàn.
Tội trong phạm trù thứ hai, Tăng Tàn, cũng được xếp loại trọng tội nhưng có thể chữa được (satekicchā). Người phạm tội bị ở vào thời kỳ chuộc tội, suốt trong thời gian đó người đó phải chấp nhận những pháp khó khăn và sau thời gian đó được phục hồi lại địa vị trong Tăng đoàn qua một buổi họp Tăng.
Năm phạm trù còn lại gồm những lỗi nhẹ, có thể chữa được và phải chịu tội bằng cách thú nhận với một tỳ khưu khác đã vi phạm tội nào đó. Sau khi thực hiện hình phạt đã đề ra, tỳ khưu vi phạm được trong sạch hoá lỗi đã vi phạm đó.
(b) KHI NÀO VÀ LÀM SAO GIỚI LUẬT ĐƯỢC ĐẶT RA?
Trong suốt hai mươi năm sau khi thành lập Tăng Đoàn không có những lệnh hay điều luật nào liên quan đến tội Bất Cọng Trụ hay Tăng Tàn. Những thành viên của Tăng Đoàn vào thời kỳ đó đều là các bậc Thánh, người ít tiến nhất cũng là bậc Nhập Lưu, là người đã đắc Đạo và Quả đầu tiên, và do đó không cần đề ra những luật liên quan đến những tội quan trọng.
Chính vì tỳ khưu Sudinna, quê ở làng Kalanda gần Vesālī, đã phạm tội hành dâm với vợ cũ của ông, đó là lý do điều luật Bất Cọng Trụ đầu tiên được ban hành. Điều luật nầy được đặt ra để ngăn cấm chư tỳ khưu đừng phạm tội hành dâm.
Khi nguyên nhân nghiêm trọng như thế đã phát sanh thì việc đặt ra điều luật để nghiêm cấm trở nên cần thiết, Đức Phật triệu tập hội nghị chư tỳ khưu. Chỉ sau khi hỏi tỳ khưu có liên quan và sau khi miễn cưỡng phạm tội như thế đã được sáng tỏ thì một điều luật quy định nào đó được đặt ra để ngăn những trường hợp tái phạm tương tự xảy ra trong tương lai.
Đức Phật cũng theo bộ luật của chư Phật quá khứ. Sử dụng năng lực siêu nhiên, ngài hồi tưởng những luật nào đã được chư Phật quá khứ đặt ra trong những điều kiện đã cho nào đó. Sau đó ngài phỏng theo những quy định tương tự để khi gặp tình huống phát sanh trong thời ngài.
(c) CHẤP THUẬN TĂNG ĐOÀN CÓ TỲ KHƯU NI
Sau khi Giác Ngộ an cư bốn mùa nưa (vassa), Đức Phật viếng thăm thành Kapilavatthu (Ca tỳ la vệ), hoàng thành quê ngài, theo lời thỉnh cầu của phụ vương ngài, Vua Suddhodana. Vào lúc đó, Mahāpajāpati, dì mẫu của Đức Phật thỉnh cầu ngài nhận bà gia nhập vào Tăng Đoàn. Không chỉ một mình bà Mahāpajāpati muốn gia nhập Tăng Đoàn mà còn năm trăm bà hoàng dòng Sakyan mà những hôn phu của họ đã từ bỏ đời sống tại gia cũng mong ước được gia nhập Tăng Đoàn.
Sau khi phụ vương ngài qua đời, Đức Phật trở lại thành Vesālī, từ chối lời thỉnh cầu nhiều lần được gia nhập Tăng Đoàn của bà Mahāpajāpati. Dì mẫu của Đức Phật, goá phụ của đức vua Suddhodhana vừa mới băng hà, cắt tóc và mặc y nhuộm vỏ cây, cùng với năm trăm bà hoàng dòng Sakyan, lên đường đi đến thành Vesalī nơi Đức Phật đang ngự trong rừng Đại Lâm, trong sảnh đường Kūtāgāra.
Đại đức Ānanda thấy họ ngoài cổng đại sảnh Kūtāgāra, chân sưng và lấm đầy bùn, buồn rầu, đầy nước mắt, đang đứng khóc. Vì lòng đại bi mẫn đối với phụ nữ, đại đức Ānanda nhân danh họ khẩn thiết nài xin Đức Phật nhận họ vào Tăng Đoàn. Đức Phật vẫn tiếp tục giữ vững lập trường. Nhưng khi đại đức Ānanda hỏi Đức Phật liệu phụ nữ không có khả năng đắc Tuệ Đạo và Quả hay sao, Đức Phật trả lời rằng quả thật phụ nữ có khả năng làm vậy và cho phép họ từ bỏ đời sống gia đình như nam giới.
Từ đó Ānanda khẩn thiết bạch rằng bà Mahāpajāpati đã từng săn sóc ngài như người bảo hộ và vú nuôi, cho ngài bú mớm khi thân mẫu ngài từ trần. Và như là phụ nữ có khả năng đắc Đạo và Quả, bà sẽ được phép gia nhập Tăng Đoàn và trở thành Tỳ Khưu Ni.
Cuối cùng Đức Phật chấp nhận lời thỉnh cầu khẩn thiết của Đại Đức Ānanda "Ānanda, nếu dì mẫu Mahāpajāpati chấp nhận Bát Kỉnh Pháp (garudhammā), hãy chấp nhận như thế nghĩa là bà được nhận vào Tăng Đoàn."
Bát Kỉnh Pháp là:
1) Một tỳ khưu ni ngay cả một trăm tuổi Đạo (Vassa), phải cung kính một tỳ khưu dù mới xuất gia chỉ một ngày.
2) Một tỳ khưu ni không nên an cư mùa mưa nơi không có tỳ khưu nào.
3) Mỗi mười lăm ngày một tỳkhưu ni phải làm hai việc: hỏi tỳ khưu Tăng ngày Bát Quan Trai Giới (Uposatha), và đến gần tỳ khưu tăng để nhận lời hướng dẫn và sách tấn
4) Khi mãn an cư mùa mưa, tỳ khưu ni phải tham gia lễ mãn an cư mùa mư (pavāranā) do cả hai hội đồng tỳ khưu tăng và tỳ khưu ni thực hiện, trong mỗi hội đồng,tỳ khưu ni phải mời góp ý phê bình về những gì đã thấy, những gì đã nghe hay những gì đã nghi ngờ về tỳ khưu ni đó.
5) Một tỳ khưu phạm tội Tăng Tàn phải thi hành hình phạt nửa tháng (pakkha mānatta), trong mỗi hội đồng tỳ khưu tăng và tỳ khưu ni.
6) Một sa di ni chỉ sau thời gian thử thách rèn luyện hai năm như là ứng cử viên được chấp nhận tu lên bậc trên phải tìm đủ cả hai hội đồng.
7) Một tỳ khưu ni không nên chửi rủa một tỳ khưu tăng trong bất cứ trường hợp nào, không nên ngay cả nói quanh co.
8) Một tỳ khưu ni phải tuân thủ các lời dạy của chư tỳ khưu, nhưng không được dạy hay khuyên bảo các tỳ khưu.
Mahāpajāpati chấp nhận không chút lưỡng lự Bát Kính Pháp nầy do Đức Phật áp đặt và cuối cùng bà được chấp nhận vào Tăng Đoàn.
-ooOoo-
Chương II
TẠNG LUẬT
Tạng Luật được kết tập từ năm cuốn sách
- Bất Cọng Trụ (Pārājika Pāḷi)
- Ưng Đối Trị (Pācittiya Pāḷi)
- Đại Phẩm (Mahāvagga Pāḷi)
- Tiểu Phẩm (Cūlavagga Pāḷi)
- Luật Tạng Tập Yếu (Parivāra Pāḷi)
1. Bất Cọng Trụ (Pārājika Pāḷi)
Pārājika Pāḷi là cuốn sách thứ nhất của Tạng Luật giải thích chi tiết về những điều luật quan trọng liên quan đến Bất Cọng Trụ và Tăng Tàn, cũng như Bất Định và Ưng Xả Đối Trị là những luật nhỏ
(a) Các tội Bất Cọng Trụ (Pārājika) và những hình phạt
Giới Bất Cọng Trụ gồm bốn loại được đặt ra để ngăn ngừa bốn tội nghiêm trọng. Bất cứ ai phạm phải luật nào trong những điều luật nầy sẽ bị thất bại trong mục đích trở thành tỳ khưu.. Theo cách nói của Luật, tội Bất Cộng Trụ rơi vào người nào thì người đó tự nhiên mất địa vị tỳ khưu; người đó không còn được công nhận như là một thành viên của hội chúng tỳ khưu và không được phép trở thành tỳ khưu lại. Người ấy phải hoặc trở về đời sống tại gia như là cư sĩ hoặc trở lại địa vị của một sa di.
Người đã mất địa vị tỳ khưu vì phạm phải bất cứ luật nào trong những luật nầy giống như người đó đã bị chặt đầu khỏi thân hình ; người ấy không thể sống thậm chí nếu cái đầu được gắn lại trên thân người đó; (ii) như lá lìa cành cây, không thể trở nên xanh lại thậm chí nếu chúng được gắn lại vào cuốn lá; (iii) Như tảng đá phẳng đã bị bửa ra; nó không thể liền lại được; (iv) như cây sồi đã bị chặt ngang thân; nó sẽ không bao giờ mọc lại.
Bốn Tội Bất Cọng Trụ Dẫn Đến Mất Địa Vị Như Là Tỳ Khưu
(i) Bất Cọng Trụ thứ nhất: Bất cứ tỳ khưu nào hành dâm mất địa vị tỳ khưu.
(ii) Bất Cọng Trụ thứ hai: Bất cứ tỳ khưu nào có tác ý lấy cắp những gì không cho sẽ bị mất địa vị tỳ khưu.
(iii) Bất Cọng Trụ thứ ba: Bất cứ tỳ khưu nào có tác ý tước đoạt mạng sống của con người sẽ bị mất địa vị tỳ khưu.
(iv) Bất Cọng Trụ thứ tư: Bất cứ tỳ khưu nào tuyên bố thành đạt mà thực sự không thành đạt, như là đắc thiền hay Tuệ Đạo và Quả sẽ bị mất địa vị tỳ khưu.
Người phạm tội Bất Cọng Trụ là tội rất nghiêm trọng. Người đó không còn là tỳ khưu. Tội của người đó không thể chữa được.
(b) Mười Ba Tội Tăng Tàn và những hình phạt
Điều Luật Tăng Tàn gồm một loạt mười ba điều luật đòi hỏi sự tham gia chính thức của Tăng từ đầu đến cuối trong tiến trình làm cho người đó hết tội vi phạm.
(i) Một tỳ khưu đã phạm những điều luật nầy và muốn hết tội trước tiên phải đến gần Tăng và sám hối tội đã phạm tội. Tăng quyết định tội của người đó và ra lệnh người đó phải thọ nhận hình phạt cấm phòng (parivāsa), hình phạt đòi hỏi người đó phải sống đình chỉ mọi sự thân gần sinh hoạt với số tăng chúng còn lại, trong nhiều ngày bằng với thời gian người đó biết mà che giấu tội lỗi
(ii) Vào lúc chấm dứt hình phạt cấm phòng (parivāsa) người đó phải trải qua một thời gian nhận hình phạt mānatta thêm sáu ngày nữa.để được Tăng chấp nhận lại.
(iii) Sau khi đã thực hành hình phạt mānatta, tỳ khưu đó thỉnh Tăng phục hồi lại đầy đủ mọi sự thân gần sinh hoạt với số Tăng Chúng còn lại.
Phẩm hạnh của người nầy được trong sạch như trước, sau khi có cuộc họp Tăng gồm ít nhất hai mươi vị tỳ khưu, tại đây ñatti , động cơ nhằm phục hồi địa vị của người nầy, được đọc theo sau ba lần đọc kammavācā, văn bản thủ tục tiến hành chính thức của Tăng.
Vài ví dụ về những tội Tăng Tàn.
(i) Tội xúc chạm vào thân phụ nữ (Kāyasamsagga):
Nếu tỳ khưu có ý dâm dục tà vạy xúc chạm vào thân người nữ, như cầm tay, vuốt tóc hay sờ chạm vào bất cứ phần nào trên cơ thể người nữ đó, người ấy phạm tội Tăng Tàn do xúc chạm thân người nữ (Kāyasamsagga Sanghādisesa).
(iii) Tội làm mai dong (Sañcaritta)
Nếu tỳ khưu nào nào làm mai dong người nam hay người nữ nào chung sống hợp pháp với nhau như chồng hoặc vợ hay sắp đặt tạm thời như người đàn ông với bà chủ hay người đàn bà với và một tình nhân, người ấy phạm tội Tăng Tàn do làm mai dong (Sañcaritta Sanghādisesa).
(c) Hai tội bất định (Aniyata) và hình phạt
Aniyata nghĩa là bất định, không chắc. Có hai tội bất định tính chất của chúng là không chắc thật vì liệu nó có phải là Bất Cọng Trụ hay Tăng Tàn hoặc Ưng Xả Đối Trị. Nó được quyết định tuỳ theo những sự cung cấp dữ kiện trong những luật sau đây:
(i) Nếu một tỳ khưu ngồi xuống chỗ riêng tư một mình với một người nữ trong một nơi riêng biệt và khuất tầm mắt, và thuận tiện cho mục đích trái đạo đức nào đó và nếu một tín nữ đáng tin (nghĩa là, một bậc Thánh), thấy tỳ khưu đó, buộc tội ông phạm bất cứ tội nào trong ba tội: (1) Bất Cọng Trụ, (2) Tăng Tàn, (3) Ưng Xả Đối Trị, và tỳ khưu đó tự nhận tội rằng ông đã ngồi như vậy, tín nữ đáng tin đó tìm thấy ông phạm một trong ba tội nầy
(ii) Nếu một tỳ khưu ngồi xuống nơi riêng tư một mình với một người đàn bà trong một nơi không khuất tầm mắt và không tiện cho mục đích trái đạo nhưng tiện cho việc nói lời dâm dục đối với người nữ đó, và nếu một tín nữ đáng tin cậy (nghĩa là, một bậc Thánh), thấy tỳ khưu đó, buộc tội ông về một tội nào trong hai tội (1) tội Tăng Tàn (2) Ưng Xả Đối Trị và chính tỳ khưu đó nhận rằng ông đã ngồi như vậy, tín nữ đó tìm thấy tội nào trong hai tội nầy.
(d) Ba mươi tội Ưng Xả Đối Trị và những hình phạt
Có ba mươi điều luật trong phạm trù tội Ưng Xả Đối Trị và những hình phạt được đặt ra để kiềm chế tâm tham quá đáng của tỳ khưu về việc sở hữu những vật dụng như y bát,v.v... Ví dụ, tội đã phạm một trong những luật nầy khi vật dụng không cho phép có được, hay khi vật có được nhiều hơn số lượng cho phép. Hình phạt gồm trước hết từ bỏ những vật đặc biệt về vật mà tội đó bị phạm. Rồi theo sau đó là sám hối về việc vi phạm điều luật, cùng với việc hứa không tái phạm điều luật đó đối với toàn thể Tăng Đoàn, hay đối với một nhóm tỳ khưu hay đối với tỳ khưu nào đó mà vật có được một cách sai trái đã được dâng nộp.
Vài ví dụ về Tội Ưng Xả Đối Trị:
(i) Điều Học Ưng Xả Đối Trị.
Nếu bất cứ tỳ khưu nào giữ số lượng y nhiều hơn cho phép, nghĩa là, y nội, y vai trái và y Tăng Già Lê, vị ấy phạm tội đối với tội đó vị ấy phải dâng nộp y thặng dư và sám hối tội của mình.
(ii) Điều học Cīvara Acchindana
Nếu tỳ khưu nào cho y của mình đến người khác và sau đó, nổi giận hay bất bình bắt buộc trả lại hay bảo người khác lấy lại dùm, người ấy phạm tội Ưng Xả Đối Trị.
Tội Ưng Xả Đối Trị là những tội nhẹ hơn so với những tội nghiêm trọng của Bất Cọng Trụ hay Tội Tăng Tàn.
2. Ưng Đối Trị (Pācittiya Pāḷi)
Ưng Đối Trị là cuốn sách thứ hai của Tạng Luật liên quan đến những tội còn lại của tỳ khưu, đó là Ưng Đối Trị, Ưng Phát Lồ, Ưng Học Pháp, Bảy Cách Dàn Xếp Việc Tranh Tụng và những điều luật tương đương đối với tỳ khưu ni. Mặc dầu Pali gọi là Ưng Xả Đối Trị, nó có tên đặc biệt là 'Suddha Pācittiya' Ưng Đối Trị thường để phân biệt với Ưng Xả Đối Trị như đã đề cập ở trên.
(a) Chín Mươi Hai Tội Ưng Đối Trị và Hình Phạt.
Có chín mươi hai điều luật trong loại nầy được phân thành chín phần. Vài ví dụ về loại tội nầy:
- Cố ý nói láo là tội Ưng đối trị.
- Tỳ khưu ngủ chung dưới một mái nhà và chung các bức tường có người nữ phạm tội Ưng Đối Trị
- Tỳ khưu đào đất hay sai bảo đào đất phạm tội Ưng Đối Trị.
Tội Ưng Đối Trị được chữa bằng cách chỉ nhận tội với một tỳ khưu khác.
(b) Bốn Tội Ưng Phát Lồ và Hình Phạt.
Trong phạm trù nầy có bốn tội và chúng đều liên quan đến tư cách tác phong của tỳ khưu trong việc nhận vật thực được đặt vào bát cho vị ấy. Tỳ khưu vi phạm bất cứ điều nào trong những điều luật nầy, trong việc thú nhận lỗi, phải dùng một công thức đặc biệt kể ra tính chất lỗi của vị ấy.
Luật đầu tiên của tội Ưng Phát Lồ đọc: tỳ khưu thọ dụng vật thực loại cứng, loại mềm đã đưa tay nhận nó từ một tỳ khưu ni mà người đó không có quan hệ gì đến tỳ khưu ấy và tỳ khưu ni ấy đã đi khất thực quanh các nhà, thì nên thú nhận với một tỳ khưu khác bằng cách nói, "Bạn, tôi đã làm việc đáng trách, không hợp và việc ấy nên được thú nhận. Tôi thú nhận đã phạm tội Ưng Phát Lồ."
Những sự kiện dẫn đến việc đặt ra luật đầu tiên trong những điều luật nầy xảy ra tại thành Sāvatthi, nơi vào một buổi sáng chư tỳ khưu và tỳ khưu ni đang đi khất thực. Một tỳ khưu ni nào đó dâng vật thực mà nàng đã nhận đến một tỳ khưu nào đó, người nầy lấy đi hết tất cả vật thực trong bát nàng. Tỳ khưu ni nầy đi không có vật thực cho ngày hôm đó. Ba ngày liên tiếp nàng dâng vật thực đến cùng một vị tỳ khưu, người nầy lại tiếp tục tước đọat hết tất cả vật thực trong suốt ba ngày. Cuối cùng nàng bị đói gần ngất xỉu. Vào ngày thứ tư trong lúc đi khất thực nàng bị ngất và ngã xuống vì quá yếu. Khi Đức Phật nghe được điều nầy, ngài bảo tỳ khưu đó mang tội tà hạnh và đặt ra điều luật trên.
(c) Bảy Mươi Lăm Điều Ưng Học Pháp về Cách Cư Xử Lịch Sự.
Bảy Mươi Lăm Điều Luật nầy được đặt ra từ lúc đầu nhằm cho tỳ khưu cũng như sa di- những người muốn gia nhập Tăng Đoàn ứng xử thích hợp trong mọi tình huống. Đa số những điều luật nầy được đặt ra tại thành Sāvatthi khi có một nhóm lục sư ứng xử vô kỷ luật. Những luật nầy được chia thành bốn nhóm. Nhóm đầu tiên có hai mươi sáu điều liên quan đến tác phong tốt và cách ứng xử khi đi vào thành phố và làng mạc. Nhóm thứ hai có ba mươi điều luật liên quan đến phong cách lịch sự khi nhận vật thực và khi thọ dụng. Nhóm thứ ba có mười sáu điều luật gồm những điều cấm giảng pháp cho những người không tôn kính. Nhóm thứ tư có ba điều luật liên quan đến những cách không hợp khi vào phòng vệ sinh và khạc nhổ.
(d) Bảy Cách Ổn Định Tranh Tụng (Adhikaraṇasamatha)
Cuốn Ưng Đối Trị kết thúc những điều luật dành cho tỳ khưu có một chương về bảy cách dàn xếp (Adhikaraṇasamatha)
Bốn Loại Tranh Tụng:
(i) Tranh tụng liên quan đến tranh cãi (Vivādādhikarana)- những gì là Pháp những gì không phải là Pháp; những gì là Luật những gì không phải là Luật; Những gì Đức Phật tuyên thuyết những gì không phải Đức Phật tuyên thuyết; và những gì là tội những gì không phải là tội..
(ii) Tranh tụng liên quan đến khiển trách (Anuvādādhikaraṇa) - Buộc tội và tranh cãi nổi lên giữa họ liên quan đến đạo đức, pháp hành, quan niệm và cách sống của vị tỳ khưu.
(iii) Tranh tụng liên quan đến tội- (Āpattādhikaraṇa) việc vi phạm bất cứ điều luật nào.
(iv) Tranh tụng liên quan nhiệm vụ (Kiccādhikaraṇa) - Chính thức họp Tăng và quyết định.
Để dàn xếp những sự tranh tụng như thế thỉnh thoảng nổi lên giữa Tăng Đoàn, những phương pháp vắn tắt và chi tiết được đề ra dưới bảy tiêu đề sau:
(i) Hành xử luật có sự hiện diện (Sammukhā Vinaya) - trước khi quyết định, tiến hành điều tra với sự hiện diện cả hai bên chiếu theo luật.
(ii) Hành xử bằng cách ghi nhớ (Sativinaya) - Tăng tuyên bố sự vô tội của vị A la hán chống lại người buộc tội không có bằng cớ, sau khi hỏi vị ấy liệu vị ấy có phạm tội hay không.
(iii) Hành xử luật khi không điên cuồng (Amūḷha Vinaya) - Tăng tuyên bố khi người bị buộc tội được biết là điên.
(iv) Về Phán xử tội đã thừa nhận (Patiññāta Karaṇa)- quyết định sau khi bên liên hệ đã chấp nhận.
(v) Thuận Theo Số Đông (Yebhuyyasika Kamma) - bằng cách bầu phiếu quyết định phiếu đa số.
(vi) Theo Tội Của Vị Ấy (Tassapāpiyasika Kamma) - Tăng quyết định khi người bị buộc tội chứng tỏ không thể tin, chỉ chối, tránh trả lời câu hỏi và nói láo.
(vii) Cách dùng cỏ che lấp (Tiṇavattharaka Kamma) - miễn tất cả các tội ngoại trừ tội Bất Cọng Trụ, Tăng Tàn và những tội liên hệ đến nam nữ cư sĩ, khi các bên tranh tụng được Tăng hoà giải.
(e) Những Điều Luật Của Tỳ Khưu Ni
Những chương kết thúc trong Ưng Đối Trị dành cho những điều giới luật của Tỳ Khưu Ni. Danh sách những điều luật của Tỳ Khưu Ni dài hơn của Tỳ Khưu Luật Tỳ Khưu Ni được kéo dài tương đương với luật Tỳ Khưu Tăng, ngoại trừ hai điều luật Bất Định là không được đặt ra cho Giáo Hội Tỳ Khưu Ni.
Tỳ Khưu
Tỳ Khưu Ni
(1) Bất Cọng Trụ
(2) Tăng Tàn
(3) Bất Định
(4) Ưng Xả Đối Trị
(5) Ưng Đối Trị
(6) Ưng Phát Lồ
(7) Ưng Học Pháp
(8) Ổn Định Tranh Tụng
4
13
2
30
92
4
75
7
8
17
-
30
166
8
75
7
Tổng cộng:
227
311
Tám phạm trù giới luật nầy dành cho Giáo Hội Tỳ Khưu và Tỳ Khưu Ni được đề cập chi tiết trong hai cuốn sách đầu tiên của Tạng Luật. Mỗi luật đều có mỗi bản nói rõ nguyên nhân Đức Phật đề ra điều luật nầy kèm theo lời sách tấn của ngài chấm dứt với câu "Tội nầy không dẫn đến phát sanh đức tin trong những ai không được thuyết phục trong Giáo Pháp, cũng chẳng tăng trưởng đức tin trong những ai đã được thuyết phục." Sau lời sách tấn của Đức Phật ở luật đặc biệt, tiếp theo là chú giải từng chữ về điều luật ấy.
3. Đại Phẩm (Mahāvagga Pāḷi).
Hai cuốn sách kế, đó là, Đại Phẩm là cuốn thứ III và Tiểu Phẩm là cuốn thứ IV của Tạng Luật, đề cập đến những vấn đề liên quan đến Tăng mà không được đề cập trong hai cuốn đầu.
Đại Phẩm, được chia thành mười phần được biết như Khandhakas, mở đầu bằng lịch sử về Đức Phật đã Giác Ngộ Tối Thượng tại gốc cây Bồ Đề, ngài khám phá ra Luật Duyên Khởi, ngài thuyết bài Kinh đầu tiên cho Nhóm Năm Ẩn sĩ về việc khám phá ra Tứ Diệu Đế, đó là bài Kinh Chuyển Pháp Luân. Tiếp theo bài nầy là bài Kinh Vô Ngã Tướng. Hai bài Kinh nầy có thể được mô tả như bản Trích Yếu của Phật Pháp.
Phần đầu tiếp tục mô tả về tích chuyện những thanh niên trong gia đình giàu có như Yasa tìm đến quy y ngài như một vị Phật và theo giáo pháp của Ngài; về Đức Phật bắt đầu sứ mạng hoằng truyền Giáo Pháp vô tiền khoáng hậu 'vì lợi ích và hạnh phúc của nhiều người' khi ngài đã có được quanh ngài sáu mươi vị đệ tử - những người đã an trú trong Pháp và trở thành A La Hán; ngài bắt đầu lập Tăng Đoàn phục vụ như một ví dụ sống động của Chân Lý ngài thuyết giảng; và những đệ tử nổi tiếng của ngài như Sāriputta, Moggallāna, Mahā Kassapa, Ānanda, Upāli, Angulimāla là thành viên của Tăng Đoàn. Sau đó cũng trong phần nầy là những điều luật cho việc chính thức được nhận vào Tăng Đoàn, Upasampadā, cho những điều kiện rõ ràng chính xác phải thực hiện trước khi người nào đó được sự chấp thuận của Tăng Đoàn và tiến trình được thi hành cho mỗi người khi thọ cụ túc giới.
Đại Phẩm đề cập thêm tiến trình buổi lễ Thọ Cụ Túc Giới, họp Tăng vào mỗi ngày rằm và mười bốn hay mười lăm ngày trăng khuyết của âm lịch khi Biệt biệt Giải Thoát Giới (Pātimokkha), bản tóm tắt Tỳ Khưu, được tụng đọc. Sau đó có nhiều điều luật được thọ trì vào an cư mùa mưa (vassa) cũng như cho ngày lễ chính thức của Pavāranā (Tự Tứ) kết thúc, trong đó một tỳ khưu mời chư huynh đệ phê bình liên quan đến những gì được thấy, nghe hay nghi ngờ về phẩm hạnh của vị ấy.
Cũng có nhũng luật liên quan đến tỳ khưu bệnh, dùng giày dép da và bàn ghế tủ giường, các vật dụng như y và những thứ liên quan đến thuốc và thực phẩm. Một phần riêng biệt đề cập đến lễ Dâng Y Kathina được tổ chức hằng năm để dâng cúng Y.
4. Tiểu Phẩm (Cūlavagga Pāḷi)
Tiểu Phẩm là cuốn sách thứ tư của Tạng Luật đề cập đến nhiều điều luật hơn và những tiến trình đối với những phận sự trong tự viện gọi là Sanghakamma. Mười hai phần trong chương nầy liên quan đến những điều luật đối với những tội như Tăng Tàn cần phải họp Tăng để giải quyết; những điều luật phải làm để chuộc tội như Parivāsa Mānatta và những qui luật để phục hồi địa vị của một tỳ khưu. Cũng có những luật về tư cách liên quan đến tắm, vận y, chỗ ở, đồ đạc và những qui luật liên quan đến việc cư xử với khách Tăng, và bổn phận của giáo thọ sư và sa di. Vài điều luật quan trọng được ban hành liên quan đến hành động chính thức chỉ trích của Tăng chống lại những tỳ khưu gây rối, cãi lộn, tranh tụng, , những ai kết hợp thân mật với gia đình và những ai nói lời khinh chê Phật, Pháp và Tăng (Tajjanīya Kamma); Ukkhepanīya Kamma, hành động chính thức Đình chỉ được dụng cho những ai phạm tội mà không muốn nhận tội; và Pakāsanīya Kamma được sử dụng để công bố rằng "Những gì Devadatta làm bằng hành động hay lời nói, nên được thấy như do tư ý Devadatta và không có gì liên quan đến Phật, Pháp và Tăng." Bản nêu rõ nguyên nhân đưa đến hành động nầy có kèm theo sự tích về Devadatta ba lần mưu toan sát hại Đức Phật và âm mưu chia rẽ Tăng của Devadatta.
Trong phần mười có sự tích về Bà Mahāpajāpati, dì mẫu của Đức Phật, thỉnh Tăng Đoàn nhận vào; Trước tiên Đức Phật từ chối và cuối cùng ngài chấp nhận lời khẩn cầu mà Ānanda đã thay mặt bà xin giúp.
Hai phần cuối mô tả những sự kiện lịch sử quan trọng, đó là tổ chức Đại Hội Kết Tập Tam Tạng lần thứ I tại thành Rajāgaha (Vương Xá) đại hội kết tập lần thứ II tại Rừng Vesāli (Trúc Lâm).
5. Luật Tạng Tập Yếu (Parivāsa Pāḷi)
Luật Tạng Tập Yếu là cuốn thứ V và là cuốn cuối của Luật Tạng phục vụ như một loại sách giáo khoa.. Nó được biên soạn trong hình thức sách giáo lý vấn đáp, có thể làm cho người đọc có một cái nhìn khái quát có phân tích về Tạng Luật. Tất cả những điều luật, những hoạt động chính và những vấn đề khác của Luật được phân loại dưới những phạm trù riêng theo chủ đề liên quan.
Luật Tạng Tập Yếu giải thích làm sao những điều luật của Giáo Hội được rút ra để chỉnh đốn phẩm hạnh của tỳ khưu cũng như những công việc hành chính của Giáo Hội. Những tiến trình rõ ràng và chính xác được đặt ra để dàn xếp những vụ tranh tụng và xử lý những vấn đề về luật, nhằm hình thành toà án Tăng Sự, gồm các vị tinh thông giới luật (Vinayadhara), nghe và quyết định mọi loại tranh tụng liên quan đến tu sĩ hay tự viện.
Luật Tạng Tập Yếu cung cấp những nguyên tắc chung và hướng dẫn trong tinh thần mà nhờ đó nghi thức Sangha Vinicchaya được thực hiện nhằm ổn định những vụ tranh tụng liên quan đến tu sĩ hay tự viện.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).