Friday, 13 September 2013

DUY THỨC HỌC.
 
 
       
---o0o---
Phần Thứ Ba 
THÀNH-LẬP DUY-THỨC
 
 
ĐOẠN I
 
MỤC-ĐÍCH
 
            Học duy-thức là để biết rõ tâm-lý chúng-sinh và mình để tiện việc tu-học.
 
            Khi đã biết rồi, nên nghiên-cứu về pháp-tính, tức là lối học tổng-quát, lời Phật dạy ở các kinh liễu-nghĩa như Duy-ma-cật, Viên-giác v.v… Tu dễ và chóng hơn.

 
*
*  *
 
ĐOẠN II
 
AI LẬP RA DUY-THỨC ?
 
            Duy-thức do Phật lập ra.
 
            Phật đã tu-chứng rồi, mới bao được hết, nên thành-lập tâm-lý học của các chúng-sinh.
            Đứng trên cao nhìn xuống, Phật mới bao-trùm được toàn phần vọng-thức của chúng-sinh.

 
*
*  *
 
ĐOẠN III
 
DUY-THỨC LÀ GÌ ?
 
            Duy-thức nghĩa là : « Không ngoài ý thức ».
 
            Ta đã biết pháp-giới bao-la, trong đó các thế-giới, các cõi Phật nhiều như bụi nhỏ ở hư-không.
            Chữ « Thức » chỉ pháp-giới bao-la đó.
 
 
*
*  *
 
 
            Nay muốn tiện việc học, ta thử giả-lập, chia ra 2 mặt chân, vọng :
 
VỌNGCHÂN
 
 
Mặt « vọng » là mặt chúng-sinh.
           
Mặt « chân » là cảnh-giới Phật.
 
            Chữ « thức » bap-trùm cả hai mặt « chân,  vọng ».
 
            Vậy chữ « thức » cũng đồng nghĩa với chữ « tâm ».
 
            Phật dùng chữ « tâm ».
 
            Bồ-tát dùng chữ « thức ».
 
            Lời Phật nói, gọi là « kinh ».
 
            Sách Bồ-tát viết, gọi là « luận ».
 
*
*  *
 
            Đó là nghĩa :
            « Tam giới duy-tâm, vạn pháp duy-thức »
Tức là : Tâm bao-trùm ba cõi, thức bao gồm muôn vât.
 
 
*
*  *
 

 
 
ĐỒNG-NGHIỆP VÀ BIỆT-NGHIỆP
 
 
1)      Vũ-trụ bao-la, pháp-giới mênh-mong, trong đó có nhiều cõi Phật, nhu bụi nhỏ ở hư-không.  
2)      Để tiện việc học, chia các phật-sát làm nhiều nhóm.
-          Ta thấy có đồng, có biệt :
a)      đồng : nói chung các nhóm.
b)      Biệt : nói riêng từng nhóm.
3)      Cứ thế chia ra từ rộng xuống hẹp, thì có đồng có biệt.
 
*
*  *
4)      THÀNH-LẬP DUY-THỨC
-          Thành lập trên hai căn-bản.
a)      Đồng-nghiệp
b)      Biệt-nghiệp
 
*
*  *
 
ĐOẠN V
 
NÓI RIÊNG VỀ PHẬT-SÁT CỦA PHẬT THÍCH-CA, TỨC LÀ CÕI SA-BÀ THẾ GIỚI NÀY :
 
a)      Đồng : gồm cả sa-bà thế-giới.
Thế-giới này có ba nghìn nghìn triệu thái-dương-hệ (3000,000,000,000).
 
b)      Biệt :
I.                    Chúng-sinh hữu-tình : gồm các chúng-sinh có trí biết phân-biệt. Những chúng-sinh này thấy biết giống nhau, có nhiều điểm chung.
 
Cùng chung một đồng-nghiệp.
 
II.                 Chúng-sinh vô-tình : gồm các sự-vật, có liên-quan đến chúng-sinh trong Phật-sát.
 
 
*
*  *
 
 
 
I.                    CHÚNG-SINH HỮU-TÌNH LẠI LÀ ĐỒNG.
 
Khi nói gồm cả các chúng-sinh đó.
 
A)    Nhân-loại : lại là biệt.
B)     Các loại khác : là biệt.
 
Cứ thế chia mãi, thảy đều có đồng, có biệt. :
 
-          Xét nhân-loại : đồng.
-          Nhân-loại có nhiều giống người : là biệt
Mỗi giống người da trắng, da vàng, da đen là biệt.
 
-          Trái đất này có nhiều châu: Á, Âu, Mỹ, Phi, Úc v.v.
Mỗi châu là biệt, trái đất là đồng.
 
-          Chia đến từng dân-tộc, từng nước, từng tỉnh, từng quận, từng làng, thảy đều có đồng có biệt.
 
-          Cho đến một người, lại có đầu, mình, chân, tay, các bộ máy tiêu-hóa, tuần-hoàn, lại chia bao bộ phận như gan, ruột v.v. chia cho đến các tế-bào. Thảy đều có đồng, có biệt.
 
 
*
*  *
 
ĐOẠN VI
 
ĐỨNG VỀ MẶT CHÚNG-SINH :
 
« Thức » là cái biết hẹp-hòi, nông-cạn của chúng-sinh.
« Nhất-thiết duy-tâm tạo » : đều do thức biết mà có chúng-sinh, thế giới.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.14/9/2013.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.
DUY THỨC HỌC.
 
 
       
---o0o---
Phần Thứ Nhất 
TỔNG-QUÁT VỀ DUY-THỨC-HỌC
 
Trước khi nghiên-cứu quyển « Duy-Thức-Học » , ta thử tổng-quát các điều cốt-yếu trong sách này.
 
* * *
 
Duy-thức-học thành-lập trên căn-bản:
-« Thức bao-trùm hết mọi sự vật trong pháp-giới bao-la, trên khoảng thời-gian
 vô-tận. »
 
Muốn tiện việc học, ta hãy giả-lập, chia làm hai phần chân, vọng:
-Về mặt « VỌNG » : Thức là trí-biết hẹp-hòi, nông-cạn của chúng-sinh.
-Về mặt « CHÂN » : Thức là trí-biết tuyệt-đối, bao-trùm pháp-giới của Phật.
 
Cũng gọi là trí, là chân-tâm, là Chân-lý v.v…
 
* * *
Nay ta đứng về mặt vọng, nghiên-cứu về vọng thức của chúng-sinh.
Tính đặc-biệt của thức là : PHÂN-BIỆT.
Phân-biệt mình, người, lớn, bé, tốt, xấu v.v…
Phân-biệt cảnh.
Đối với thức là bề trong, cảnh là bề ngoài.

 
* * *
Muốn tiện việc học, ta chia thức làm 8 phần :
Đó là 8 thức :
-5 thức đầu
-Thức thứ 6.
-Thức thứ 7.
-Thức thứ 8.
 
* * *
Năm thức đầu, chúng ta biết rất rõ. Khoa-học ngày nay gọi là ngũ-quan.
Đó là các phạm-vi thấy biết của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân-thể.
Mắt nhìn. Cái gì mắt thấy, gọi là TRẦN, hay CẢNH. Ví-dụ như lọ mực. Mắt gọi là CĂN, tức là cơ-quan hoạt-động để thu hình-ảnh. Lọ mực là CẢNH hay là TRẦN. Cái biết lọ mực là THỨC của con mắt, hay là NHÃN-THỨC. 
Thân sờ-mó, đụng chạm. Nhất là tay sờ sự-vật biết nhẵn, trơn, nóng, lạnh, mềm, cứng v.v.. Ví dụ tay sờ cái mặt bàn. Tay sờ là CĂN. Mặt bàn là TRẦN. Cái cảm giác trơn, lạnh là THỨC, nói rỏ hơn  là TRẦN-THỨC. 
Vậy chúng ta nương vào ngũ-quan để biết sự-vật. 
* * *
Còn thức thứ 6, là tư-tưởng, phân-biệt, so-sánh, suy-luận, ngược giòng thời-gian tìm nhân, xuôi dòng tìm quả. Suy từ hẹp đến rộng, từ gần đến xa.
Đó là Ý-THỨC.
Ý-thức giao-thiệp với 5 thức trên, bao quát cả sự-vật. Tổng quát các điều tai nghe mắt thấy để hiểu rõ sự-vật. 
Căn của ý-thức, gọi là ý. Tức là cả thần-kinh-hệ có liên-quan đến cái biết, đến trí thông-minh. Trần của ý-thức, gọi là PHÁP, tức là sự-vật. Một pháp tức là một sự-vật. Vật đó có thể có hình hay vô-hình, như những tư-tưởng thầm-kín trong lòng người.
 
Nhân-loại ngày nay nương vào ý-thức để tìm hiểu sư-vật, để xây-dựng cuộc-đời, để làm chủ vũ-trụ.
Ý-thức ngày nay phát-triển quá đáng.
Tóm-lại, 6 căn là : nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý ; tức là : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. 
Sáu trần là : Sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp ; tức là : Những  hình ảnh mắt thấy ; những tiếng động, tĩnh tai nghe ; những mùi ngửi ; những vị lưỡi nếm ; những cảm-giác tay và thân sờ-mó, đụng-chạm. ; những sự-vật ý biết.
Tức là : Các phạm-vi thấy biết của mắt, của tai, của mũi, của lưỡi, của thân, của ý.
 
* * *
Khoa-hoc. Và tiểu-thừa chỉ biết 6 thức trên. Phật và các bồ-tát còn biết các thức thứ 7 và thứ 8. Khi đã tu-chứng lên cao, mới biết được hành-tướng của thức thứ 7. 
Thức này chuyên về CHẤP NGÃ. Ví như con ốc cứ bo-bo bám lấy vỏ ốc của mình, cho là cả cuộc đời, cả vũ-trụ. Quý-báu lắm, không dám dời ra bao giờ.
 
Thức thứ bảy thầm-thầm chấp ngã, quá yêu ngã, tôn-thờ ngã, nên giữ chặt lấy, không dám dời ra. 
Nó hay so-sánh, khởi ra yêu-ghét thiên-lệch, ví như người nhỏ-nhen, vừa ích-kỷ, vừa hay ghen-ghét, vừa tham-lam, vừa keo-kiệt, chỉ muốn vơ về mình.
Có tu-chứng cao, từ A-la-hán trở lên, mới thoát khỏi nô-lê cho thức này.Khi còn là chúng-sinh, ta bị nó ràng-buộc. Vậy nên biết chính nó làm ta khổ. Đừng a-tòng binh nó, mà nô-lệ mãi cho nó, không bao-giờ giải-thoát được.
Cái gốc khổ-não, cái gốc tội-lỗi, cái gốc mê-lầm, chính là thức thứ bảy. 
Ta biết thế, tìm cách giải-thoát khỏi thức này, không chịu để nó lôi kéo. Hãy đi ngược với nó để chóng giải-thoát. Đó là : quán trí-vô-phân-biệt.
 
* * *
 
Phật lại biết một thức nữa, đó là thức thứ 8.
Thức này rất nhỏ-nhiệm. Có Phật mới biết được. Thức này chuyên-chú về CHỨA-NHÓM. Nó có đủ các hạt giống của tất cả sự-vật trong các cõi. 
Các hạt giống đó do HUÂN-TẬP mà phát-triển. HUÂN nghĩa là ướp. Ví như chè để cạnh hoa. Chè đượm hương thơm của hoa.Nói rộng ra, đó là ảnh-hưởng của hoàn-cảnh. Hoàn-cảnh hay, ta được hay, Hoàn-cảnh dở, ta chịu ảnh-hưởng dở. 
TẬP là tập mãi thành thói-quen. Đứa trẻ tập nhìn, tập nói, tập đi, tập viết, tập đọc, tâp chào, tập suy-nghĩ, tập lễ-độ v.v. 
Chúng-sinh tập bao thứ thành thói quen. Nhưng, nên nhớ, ta đã có các hạt giống sẵn có từ bao kiếp trước, nên nay tập mới chóng thạo. chứ nếu không tập lâu lắm.
Ví dụ con gà con, nó vừa ở trứng chui ra, đã biết chạy đi tìm mồi, biết mổ hạt thóc, biết chạy trốn trước nguy-hiểm.
Ví dụ con cọp nhỏ, tuy tập bắt mồi, nhung tài năng, khuynh-hướng đã sẵn có từ cha truyền con nối.
* * *
Vậy thức thứ tám ví như cái kho. Các hạt giống nằm trong đó. Cảnh ngoài và các thức trước có huân-tập cái gì, nó giữ cái đó. Nếu được hoàn-cảnh tốt, các hạt giống tốt phát-triển, phát-triển mãi, thành hiện-hành, và hiên-hành lại phát-triển chủng-tử.
 
Một ngày kia, ta sẽ hoàn-toàn hiện-hành Phật.
Thức tứ 8 chỉ là cái kho, chứa giữ chủng-tử. Còn anh chấp là thức thứ 7, ví như người giữ kho, không cho ai lấy cái gì trong kho ra.
 
* * *
Áp-dụng : TU DUY-THỨC
 
1. - TU THEO CĂN. 
Đã biết rõ thế, ta áp-dụng để tu, lợi-ích cho ta. Hãy tu theo căn.
Căn không phân-biệt. Ví-dụ : con mắt nhìn lọ mực. Trong thời-gian rất ngắn đầu-tiên, hình ảnh lọ mực vào con mắt. Con mắt nhận hình-ảnh đó, nhưng chưa phân-biệt. 
Sau anh thức thứ 6 mới nắm lấy mà phân-biệt so-sánh đủ thứ… 
Rồi anh thức thứ 7 mới sinh ra yêu, ghét, chê, khen v.v… 
Vậy tu theo căn, như đứa trẻ sơ-sinh, rất ngây-thơ, không phân-biệt, ngày càng trong sạch.
 
Như gương soi các vật. Soi mà không phân-biệt. Cứ quan-sát như thế, không bị nô-lệ cho thức thứ 6 và thức thứ 7. 
Thói-quen này phát-triển mãi, ta sẽ tu-chứng, sẽ gần chân-lý. Vì mắt ta trong-sạch, thấy sự-thực của sự-vật, tức là gần chân-lý.
 
Cái biết chưa bị các thức thứ 6 và thứ 7 làm xuyên-tạc theo nghiệp của chúng.

 
* * *
2.  - TU THEO HIỆN-LƯỢNG. 
Tu như thế là tu theo hiện-lượng, theo trực-giác. Trí biết trong sáng, như gương soi vật. Không có phân-biệt. Càng ngày càng trong, càng thuần, càng gần chân-lý.
 
* * *
 
3. - TU THEO TRÍ KHÔNG PHÂN-BIÊT. 
Tu như thế tức là tu theo trí không phân-biệt.
Thói-quen không phân-biệt đi ngược với thói-quen phân-biệt của hai thức 6 và 7. Nó ngày càng giải-thoát ta. Dần dần ta được trí không phân-biệt, và tu-chứng lên cao…
* * *
4. – XA-LÌA CHẤP NGÃ VÀ CHẤP PHÁP, XA-LÌA NĂNG, SỞ.
Ta biết gốc mọi sự khổ, nguyên-nhân luân-hồi sinh-tử là anh thức thứ 7. Thức này chấp ngã.
Rồi đến thức thứ 6. Thức này chấp pháp, tức là cho sự-vật thực có, rồi yêu sự-vật, nô-lệ cho sự-vật. 
Ta hãy quán : ly-huyễn.
Xa-lìa ngã va    pháp. Mọi sự-vật đều huyễn. Cái gì ta yêu, ta quý, ta thiết-tha, cũng là huyễn. Xa lìa năng, sở. Không thấy có mình, có người, có hay, dở. 
Cứ xa-lìa như thế mãi, sẽ tu-chứng.
 
* * *
 
Ta hãy luôn-luôn đối-phó với thức thứ 7. Nó thầm-thầm chấp ngã. 
Khi ta chưa tu-chứng đến A-la-hán, nó vẫn đeo ta hoài. 
Ta khó thoát nổi nó xui-dục.
Vậy hãy đề-phòng nó tìm cách hoành-hành.
Ta cứ yên-trí là bệnh ta còn nặng, còn phải chữa, còn phải đối-trị. 
Ai bảo mình không chấp ngã là nhầm. Vì câu-sinh ngã-chấp rất nhỏ-nhiệm, rất khó trừ.
Đó là bệnh lâu đời của chúng-sinh.
* * * 
Trên đây là những điều cốt-yếu để tu theo duy-thức.  Học duy-thức có cái lợi là biết rõ tâm-lý mình và chúng-sinh, không lầm bênh-vực bệnh của mình. Như thế giúp nhiều cho sự tu-học.
Nhưng khi ta đã có căn-bản về duy-thức, nên học nhiều về pháp-tính, tức là các kinh liễu-nghĩa.
Muốn hiểu sâu quyển « Duy-Thức-Học » này, trước hết nên nghiên-cứu bộ « Phật giáo1 » để có căn-bản về đạo Phật.
Rồi nên nghiên-cứu kinh « Lăng-nghiêm », ta càng sâu hiểu đạo.
Sau mới đọc quyển « Duy-thức-học3 », này, mới hiểu rõ-ràng, và thêm căn-bản vững-chắc về pháp-tướng và pháp-tính.
Lại nên nghiên-cứu kinh « Duy-ma-cật4 », để biết rộng thêm về các hạnh tu của Bồ-tát. Kinh này cảm-hóa ta, làm ta càng thêm cao-thượng, trong-sạch, từ-bi. Tâm-hồn càng mở rộng.
Rồi phát-tâm nghiên-cứu kinh « Viên-giác5 », kinh cao nhất, quý nhất của đạo Phật, kết-tinh tất cả giáo-lý tối cao của Phật, về lý-thuyết cũng như về thực-hành.
Thế là ta đã có một căn-bản rất vững-chắc, sâu rộng vế đạo Phật. Ta có thể vững-vàng tu học, độ sinh.    HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.14/9/2013.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.
DUY THỨC HỌC.
 
 
       
 
 
 
 
Duy-Thức-Học là một nghành học rất sâu-sắc, uẩn-súc, và rất danh-tiếng trong đạo Phật. Đó là tâm-lý-học của Phật-Pháp, giúp chúng-sinh, để dể bề tu-tiến. Duy-thức thuộc về Pháp-Tướng, tức là phân-tích, lý-luận, chia phần, đoạn, phân-minh như khoa-học ngày nay.
Đây là quyển sách đầu-đủ về Duy-Thức. Phần lớn là bản dịch bộ « Thành-Duy-Thức Luận » của Tam-Tạng Pháp-Sư Huyền-Trang, đời Đường, bên Trung-Hoa. Bộ này được coi là bộ sách đầy-đủ nhất về Duy-Thức từ xưa đến nay.
Dịch-giả, cụ Trí-Độ, là một hoc giả uyên-bác, lỗi lạc về Phật-Pháp, một tâm-hồn bồ-tát rộng-rãi, vị-tha. Cụ là Tôn-Sư của các Thượng-Tọa Thích-Trí-Tịnh, Thích-Thiện-Siêu, Thích-Thiện-Hoa, Thích-Trí-Quang, Thích-Thiện-Hòa, Thích-Thiện-Minh và Thích-Huyền-Quang.
Năm 1948, Cụ mang hết kinh-nghiệm một đời tu học, truyền-dạy cho tôi về Phật-Pháp, về Nhân-Minh, và dịch với tôi bộ kinh « Lăng-Nghiêm » và bộ « Thành-Duy-Thức-Luận ». Cụ Có căn-dặn tôi, và tôi có hứa với Cụ, là sẽ mang truyền-bá hai bộ trên cho thế-hệ tương-lai.
Nay, để trả nghĩa Cụ, theo gương vị-tha của Cụ, tôi tung hai bộ sách này ra bốn phương, tặng Phật-Tử những nguồn ánh-sáng đẹp-đẽ của Chân-lý.
Nhưng chỗ cao-siêu, uyên-áo của Duy-Thức-Học, và cũng là của Phật-Pháp, những điều mà hầu hết các Tổ-Sư ở Việt-Nam, ở Trung-Hoa và thế-giới bí-tắc, lại  Do Cụ Huyền-Cơ chỉ dạy.
Cụ Huyền-Cơ là một Bồ-Tát bác-học, đã nhiều kiếp tu-chứng, tâm-hồn cao-thượng, thanh-tịnh, từ-bi. Cái học của Cụ bao-trùm Pháp-Tính và Pháp-Tướng, bao-trùm Chính-Pháp và Duy-Thức, Nhân-Minh. Cụ đã nghiên-cứu hàng trăm bộ Duy-Thức khác nhau ở trường Viễn-Đông Bác-Cổ Hà-Nội. Cụ đã phát-minh ra nhiều điều mói lạ về Nhân-Minh, Duy-Thức. Cụ đã thành-lập Duy-Thức-Học, sự-nghiệp mà từ đời Phật Thích-Ca đến nay, chỉ có một ít Tổ-Sư nhu Huyền Trang, Khuy-Cơ, Cơ-Biện làm nổi.
Để cho quyển « Duy-Thức-Học » này được đầy-đủ, và là căn-bản cho Duy-Thức-Học, tôi đưa vào nhiều tài-liệu quý-báu của Cụ Huyền-Cơ, để lập một hệ-thống vĩ-đại cho Duy-Thức-Học Việt-Nam, cho Duy-Thức-Học thế-giới.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.14/9/2013.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.
Các phần khác:   Phần đầu  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27  28  29  30  31  32  33  34  35  36  .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.14/9/2013.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.
[PDF]

Thành duy thức luận - Bồ Đề Tâm

www.bodetam.org/ThuVien/PDF/thanhduythucluan-tuesy.pdf
LUẬN THÀNH DUY THỨC. MỤC LỤC. MỤC LỤC . .... BẢY LUẬN SƯ NGOẠI ĐẠO . ... Sắc hữu đối như yếu tố tác thành: cực vi.........................................................HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.14/9/2013.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Thursday, 12 September 2013

Đạo Người Xuất Gia _ Thích Đạt Ma Khế Định - TVsungphuc.net

HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.12/9/2013.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.

Thursday, 5 September 2013

Bài 07: Triết học Thượng tọa bo.

image
Thượng tọa bộ (上座部), sa. sthaviravāda, còn gọi Theravada, hoặc gọi là Phật giáo nguyên thủy hay Phật giáo Nam truyền. Bộ phái này hình thành ngay trong thế kỷ đầu tiên sau khi đức Phật Nhập Niết Bàn. Chữ Theravada có nghĩa là “lời dạy của bậc trưởng thượng”
I Khái niệm về Thượng Tọa Bộ:
Thượng tọa bộ (上座部), sa. sthaviravāda, còn gọi Theravada, hoặc gọi là Phật giáo nguyên thủy hay Phật giáo Nam truyền. Bộ phái này hình thành ngay trong thế kỷ đầu tiên sau khi đức Phật Nhập Niết Bàn. Chữ Theravada có nghĩa là “lời dạy của bậc trưởng thượng”. Do đó nhiều sách còn Bộ này là Trưởng Lão bộ là một trường phái Phật giáo xuất phát từ Phân biệt bộ (sa.vibhajyavādin), do Mục-kiền-liên-Tử-đế-tu (pi. moggaliputta tissa) thành lập. Về giới luật cũng có nhiều bất đồng trong Thượng tọa bộ. Ngày nay Thượng tọa bộ được truyền bá tại các nước Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia và Lào, nên còn được gọi là Nam tông Phật giáo hiện nay.
Thượng tọa bộ là trường phái tự nhận mình là Phật giáo nguyên thủy. Thượng tọa bộ cho rằng các kinh điển viết bằng văn hệ Pāli[1] của mình là ngữ thuyết của chính đức Phật. Giáo pháp của Thượng tọa bộ chủ yếu gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Duyên khởi và thuyết Vô ngã. Thượng tọa bộ nhấn mạnh khả năng từng người tự giải thoát bằng cách kiên trì giữ giới luật và sống một cuộc đời phạm hạnh. Quả vị tối tu chứng của Thượng tọa bộ là A-la-hán[2]. Giáo pháp của Thượng tọa bộ có khuynh hướng phân tích, trong đó A-tì-đạt-ma (sa. abhidharma) đóng một vai trò quan trọng. Ngoài ra bộ Thanh tịnh đạo (pi. visuddhi-magga) và Di-lan-đà vương sở vấn kinh (彌蘭王所問經, pi. milindapañha) cũng rất được phổ biến. Luận sư xuất sắc của Thượng tọa bộ là Phật Âm (pi. buddhagosa), Hộ Pháp (pi. dhammapāla), A-na-luật (pi. anuruddha) và Phật-đà-đạt-đa (pi. buddhadatta).

II. Sự thành lập kinh điển Phật giáo:

1/ Kiết tập kinh điển lần thứ nhất:
     Ngay sau khi Ðức Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn khoảng 3 tuần trăng, các vị thánh đệ tử của Ngài đã nhóm họp lại để xác định lại những lời dạy của Ngài. Thời gian vào thế kỷ thứ năm, thứ sáu trước Tây lịch. Một nguồn tài liệu duy nhất là khảo cứu những mảnh tài liệu rời rạc trong các Kinh sách Phật Giáo, hoặc các trụ đá, những địa điểm lịch sử để đúc kết lại một cách ước đoán, cố gắng tạo dựng lại đoạn đường thành lập Kinh điển Phật Giáo.
Địa điểm là Ðộng Bảy Lá (Saptaparna-guha) trong vùng núi gần Vương Xá (Rajagaha), kinh đô của nước Ma Kiệt Ðà (Magadha). Kỳ Kết Tập nầy có khoảng năm trăm Tỳ Kheo tham dự vây quanh các ngài Ma Ha Ca Diếp (Mahakashyapa), A Nan (Ananda), Ưu Ba Li (Upali), và một số các vị khác trong Mười Ðại Ðệ Tử lớn của Ðức Phật. Đồng thời có sự tham dự của A Xà Thế (Ajatashatru), vua của nước Ma Kiệt Ðà trợ giúp cho kỳ Kết Tập nầy. Để sắp xếp lại những lời dạy của Ðức Phật làm thành Kinh điển Phật Giáo. Chỗ kiết tập này vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

2/ Kiết tập lần thứ hai:
            Một trăm năm sau Cuộc Kết Tập Lần Thứ Nhất, một cuộc hội họp lớn của Phật Giáo được triệu tập[3]. Dù thế nào, vào khoảng thời gian ấy, Tăng Ðoàn Phật Giáo đã chia làm hai nhánh chính, một nhánh được gọi là Theravada hay Thượng Tọa Bộ và nhánh thứ hai là Mahasanghika hay Ðại Chúng Bộ.
         Trong trăm năm đó, thời gian chắc chắn đã làm xã hội thay đổi một cách đáng kể, cũng như cách sống của người Ấn Ðộ, và điều không thể tránh là những sự khác biệt về cách giải thích những di huấn và giáo pháp của Ðức Thích Ca Mâu Ni cũng đã xảy ra.
         Chính sự khác nhau trên quan điểm giới luật đã đưa đến Cuộc Kết Tập Lần Thứ Hai. Một nhóm Tăng sĩ thuộc bộ tộc Vajji (Bạt Kỳ) ở thành Vaishali (Tì Xá Li)) được coi như những người tiên phong trong việc đưa ra những giải thích mới về “Mười Giới," những giới luật căn bản cho các Tăng Sĩ trong Tăng Ðoàn, và Cuộc Hội Nghị được triệu tập để đánh giá những giải thích của họ.

10 điều phi pháp:

1/ Tỳ kheo ăn muối gừng để dành qua đêm vẫn hợp pháp,
2/ Tỳ kheo ăn xong, nhận được thức ăn khác, dùng hai ngón tay cầm thức ăn để ăn vẫn hợp pháp,
3/ Tỳ kheo ăn xong, rời khỏi chỗ, rồi ngồi ăn lại vẫn hợp pháp,
4/ Tỳ kheo ăn xong, đi sang nơi khác ăn thêm vẫn hợp pháp,
5/ Tỳ kheo dùng sữa đường hòa lại uống ngoài bữa ăn chính vẫn hợp pháp,
6/ Tỳ kheo uống rượu tự chế biến từ trái cây vẫn hợp pháp,
7/ Tỳ kheo tùy ý làm tọa cụ lớn hoặc nhỏ vừa với mình vẫn hợp pháp,
8/ Tỳ kheo có thể làm những việc mà lúc còn cư sĩ đã làm vẫn hợp pháp, tất nhiên có việc có thể làm được và có việc không thể làm được,
9/ Trong một trú xứ có một nhóm Tỳ kheo làm pháp yết ma riêng, sau đó đến yêu cầu chúng Tăng chấp nhận pháp yết ma ấy vẫn hợp pháp,
10/ Tỳ kheo có thể thu nhận và cất giữ vàng bạc, tiền của vẫn hợp pháp.
         Như người ta có thể thấy, những tăng sĩ trong thời buổi đó sống một đời sống hết sức hạn chế, nên nhóm ỳ kheo Bạt Kỳ  muốn thoát khỏi cái vỏ giáo điều vì nó không còn thực tế với cuộc sống cho nên mạnh dạng đề nghị, giới luật phải đi vào cuộc sống chứ không phải là một cái gì từ bên ngoài áp đặt lên một cá nhân.Cho nên sự tách rời giữa Theravada (Thượng Tọa Bộ) và Mahasanghika (Ðại Chúng Bộ) xảy ra là quy luật ắt có và đủ.
Tuy nhiên cả hai truyền thống điều thừa nhận: “Vận mạng của Ðạo Phật nằm ở khả năng nắm giữ và những nền tảng đạo đức phải  áp dụng chúng một cách đúng đắn để người học Phật đi vào thực hành”. Bởi đạo Phật là một đạo thực nghiệm, đến để nắm bắt chứ không phải chiêm ngưỡng!

III. Giáo Lý trọng tâm:
1/ Giáo Lý Tứ đế.
Tứ diệu đế (zh. 四妙諦, sa. catvāry āryasatyāni, pi. cattāri ariya-saccāni), cũng gọi là Tứ thánh đế (zh. 四聖諦), là bốn chân lý cao cả, là gốc cơ bản của Phật giáo. Tứ diệu đế là nội dung của kinh nghiệm giác ngộ của Phật Thích-ca Mâu-ni, và cũng là nội dung chính của bài kinh đầu tiên, kinh Chuyển pháp luân.
Tứ diệu đế là:
1.1 Khổ đế (zh. 苦諦, sa. duḥkhāryasatya), chân lí về sự Khổ: Chân lý thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn. Sinh, lão bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích, không đạt sở nguyện, đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn[4] (zh. 五蘊, sa. pañcaskandha, pi. pañcakhandha), là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ.
1.2 Tập khổ đế (zh. 集苦 諦, sa. samudayāryasatya), chân lý về sự phát sinh của khổ: Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, Ái (愛, sa. tṛṣṇā, pi. taṇhā), tìm sự thỏa mãn dục vọng, thỏa mãn được trở thành, thỏa mãn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi (zh. 輪迴; sa., pi. saṃsāra).
1.3 Diệt khổ đế (zh. 滅苦諦, sa. duḥkhanirodhāryasatya), chân lí về diệt khổ: Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt.
1.4 Đạo đế (zh. 道諦, sa. duḥkhanirodhagāminī pratipad, mārgāryasatya), chân lí về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đạt sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Không thấu hiểu Tứ diệu đế được gọi là Vô minh (zh. 無明, sa. avidyā, pi. avijjā).

2/ Bát chánh đạo:
Bát chính đạo (zh. bāzhèngdào 八正道, ja. hasshōdō, sa. aṣṭāṅgika-mārga, pi. aṭṭhāṅgika-magga,) là con đường tám nhánh để giải thoát khỏi Khổ (sa. duḥkha), là chân lý cuối cùng của Tứ diệu đế. Bát chính đạo là một trong 37 Bồ-đề phần (zh. 三十七菩提分) hay 37 giác chi (sa. bodhipākṣika-dharma).
Bát chánh đạo bao gồm:
2.1 Chánh kiến (zh. 正見, pi. sammā-diṭṭhi, sa. samyag-dṛṣṭi,): Gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lí vô ngã.
2.2 Chánh tư duy (zh. 正思唯, pi. sammā-saṅkappa, sa. samyak-saṃkalpa): Suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm.
2.3 chánh ngữ (zh. 正語, pi. sammā-vācā, sa. samyag-vāk): Không nói dối hay không nói phù phiếm.
2.4 chánh nghiệp (zh. 正業, pi. sammā-kammanta, sa. samyak-karmānta,): Tránh phạm giới luật.
2.5 chánh mệnh (zh. 正命, pi. sammā-ājīva, sa. samyag-ājīva): Tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh (giết hại sinh vật) như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện.
2.6 chánh tinh tiến (zh. 正精進, pi. sammā-vāyāma, sa. samyag-vyāyāma): Phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
2.7 chánh niệm (zh. 正念, pi. sammā-sati, sa. samyak-smṛti): Tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ý;
2.8 chánh định (zh. 正定, pi. sammā-samādhi, sa. samyak-samādhi): Tập trung tâm ý đạt bốn định xuất thế gian (sa. arūpa-samādhi).

3/ Học Thuyết duyên khởi:
Thuyết Duyên khởi (zh. 縁起, sa. pratītyasamutpāda, pi. paṭiccasamuppāda), cũng được gọi là Nhân duyên sinh (zh. 因縁生), và vì bao gồm 12 thành phần nên cũng có tên khác là Thập nhị nhân duyên (zh. 十二因縁, sa. dvādaśanidāna, dvādaśāṅgapratītyasamutpāda), là một trong những giáo lý quan trọng nhất của đạo Phật. Thuyết này chỉ rõ là mọi hiện tượng tâm lí và vật lí tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, làm thành một vòng với mười hai yếu tố. Các yếu tố này làm loài hữu tình cứ mãi vướng mắc trong Luân hồi[5] (sa., pi. saṃsāra). Cốt lõi của học thuyết Duyên khởi có thể tóm gọn trong bốn cập phạm trù:
a) Nếu cái này tồn tại thì cái kia hình thành.
b) Cái này phát sinh thì cái kia phát sinh.
c) Cái này không tồn tại thì cái kia không hình thành.
d) Cái này diệt thì cái kia diệt.
Các nguyên nhân chính và các điều kiện hỗ trợ này gồm có 12 yếu tố:
1/ Vô minh (zh. 無明, sa. avidyā, pi. avijjā), sự không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu Khổ là tính chất căn bản của đời sống;
2/ Hành (zh. 行, sa. saṃskāra, pi. saṅkhāra), hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng: thân, khẩu và ý;
3/ Thức (zh. 識, sa. vijñāna, pi. viññāṇa), làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ đúng như Hành tốt xấu quy định;
4/ Danh sắc (zh. 名色, sa., pi. nāmarūpa), là toàn bộ tâm lý và vật lý của bào thai mới, do Ngũ uẩn (sa. pañcaskandha, pi. pañcakhandha) tạo thành.
5/ Lục căn (zh. 六根, sa. ṣaḍāyatana, pi. saḷāyatana), là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu).
6/ Xúc (zh. 觸, sa. sparśa, pi. phassa). Sự tiếp xúc của các giác quan.
7/ Thọ (zh. 受, sa., pi. vedanā), là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài;
8/ Ái (zh. 愛, sa. tṛṣṇā, pi. taṇhā), tham ái, lòng ham muốn xuất phát từ vô minh;
9/ Thủ (zh. 取, sa., pi. upādāna) là điều cá nhân mới muốn chiếm lấy cho mình;
10/ Hữu (zh. 有, sa., pi. bhava), là toàn bộ những gì ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới.
11/ Sinh (zh. 生, sa., pi. jāti), một thế giới và cá nhân mới xuất hiện hẳn hoi.
12 Lão tử (zh. 老死, sa., pi. jarāmaraṇa), vì có Sinh nên có hoại diệt.
.
4/ Học thuyết Vô ngã: (無我, sa. anātman, pi. anattā),
            Là một trong Ba tính chất (sa. trilakṣaṇa) của sự vật. Quan điểm vô ngã là giáo pháp cơ bản của đạo Phật, cho rằng, không có một Ngã (sa. ātman, pi. attā), một cái gì trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong sự vật. Như thế, theo đạo Phật, cái ngã, cái "tôi" cũng chỉ là một tập hợp của Ngũ uẩn (sa. pañcaskandha), luôn luôn thay đổi, mất mát và, vì vậy, “tôi” chỉ là một sự giả hợp, gắn liền với cái Khổ.
Không thể có một “cá nhân” trường tồn bởi vì ngũ uẩn không có một thật thể và tính đồng nhất. Nên lưu ý ở đây là sự vắng mặt của một ngã. Đức Phật không nói không có ngã, mà chỉ nói ngã không thể được tìm thấy trong ngũ uẩn.
Sự khẳng định của đức Phật cho chúng ta thấy, sự tái sinh được quyết định bởi Nghiệp mà chúng sinh đã tạo trong các kiếp trước. Từ đó, con người phải tu thân và tâm để tránh tạo nghiệp. Hay nói cách khác là khống chế nghiệp lực, hoặc nhận thức được là cốt lõi của chúng sinh, tức chân ngã hoàn toàn không liên quan đến các nghiệp và vì vậy trường tồn bất biến.

5 Học Thuyết A-tì-đạt-ma:
Được gọi A-tì-đàm (zh. 阿毗曇) hoặc Tì-đàm (毘曇) hoặc Vi Diệu Pháp. Dịch nghĩa là Đối pháp (zh. 對法), Đại pháp (zh. 大法), Vô tỉ pháp (zh. 無比法), Hướng pháp (zh. 向法), Thắng pháp (zh. 勝法), Luận (zh. 論). Mang nghĩa là Thắng pháp hoặc là Vô tỉ pháp (zh. 無比法), vì nó vượt (abhi) trên các Pháp (dharma), về cách giải thích Trí tuệ.
A-tì-đạt-ma là tạng thứ ba trong Tam tạng. Tạng này chứa đựng các bài giảng của đức Phật và các đệ tử với các bài phân tích về Tâm và hiện tượng của tâm. A-tì-đạt-ma là gốc của Tiểu thừa lẫn Đại thừa, xem như được thành hình giữa thế kỉ thứ 3 trước và thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên. Lần kết tập cuối cùng của A-tì-đạt-ma là khoảng giữa năm 400 và 450 sau Công nguyên. Có nhiều dạng A-tì-đạt-ma như dạng của Thượng toạ bộ (pi. theravāda), của Thuyết nhất thiết hữu bộ (sa. sarvāstivāda)... A-tì-đạt-ma là gốc của mọi trường phái và người ta dùng nó để luận giảng các bài Kinh (sa. sūtra, pi. sutta).
A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ được Phật Âm (zh. 佛音, sa. buddhaghoṣa) hoàn chỉnh, được viết bằng văn hệ Pali và bao gồm bảy bộ:
1/ Pháp tập luận (zh. 法集論, pi. dhammasaṅgaṇi): nói về các tâm pháp, sắp xếp theo từng cách thiền định khác nhau và các pháp bên ngoài, sắp xếp theo nhóm;
2/ Phân biệt luận (zh. 分別論, pi. vibhaṅga): nêu và giảng nghĩa, phân biệt những thuật ngữ như Ngũ uẩn (zh. 五蘊, pi. pañcakhandha), Xứ (zh. 處, sa., pi. āyatana), Căn (zh. 根, sa., pi. indriya) v.v.;
3/ Luận sự (zh. 論事, pi. kathāvatthu): nêu 219 quan điểm được tranh luận nhiều nhất và đóng góp nhiều cho nền triết lí Phật giáo;
4/ Nhân thi thiết luận (zh. 人施設論, pi. puggalapaññati): nói về các hạng người và Thánh nhân;
5/ Giới thuyết luận (zh. 界說論, pi. dhātukathā): nói về các Giới (zh. 界, sa., pi. dhātu);
6/ Song luận (zh. 雙論, pi. yamaka): luận về các câu hỏi bằng hai cách, phủ định và xác định;
7/ Phát thú luận (zh. 發趣論, pi. paṭṭhāna hoặc mahāprakaraṇa): nói về những mối liên hệ giữa các pháp (pi. dhamma).
A-tì-đạt-ma của Thuyết nhất thiết hữu bộ (sa. sarvāstivāda) được viết bằng Phạn ngữ và Thế Thân (zh. 世親, sa. vasubandhu) là người tổng hợp. A-tì-đạt-ma này cũng bao gồm bảy bộ khác nhau, cụ thể là:
1/ Tập dị môn túc luận (zh. 集異門足論, sa. saṅgītiparyāya): bao gồm những bài giảng theo hệ thống số, tương tự như Tăng chi bộ kinh;
2/ Pháp uẩn túc luận (zh. 法蘊足論, sa. dharmaskandha): gần giống như Phân biệt luận trong A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ;
3/ Thi thiết túc luận (zh. 施設足論, sa. prajñaptiśāstra): trình bày dưới dạng Kệ những bằng chứng cho những sự việc siêu nhiên, thần bí;
4/ Thức thân túc luận (zh. 識身足論, sa. vijñānakāya): nói về các vấn đề nhận thức. Có vài chương nói về những điểm tranh luận giống Luận sự (pi. kathāvatthu), Giới luận (pi. dhātukathā) và Phát thú luận (zh. paṭṭhāna) trong A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ;
5/ Giới thân túc luận (zh. 界身足論, sa. dhātukāya): gần giống Giới thuyết luận (pi. dhātukathā) của Thượng toạ bộ;
6/ Phẩm loại túc luận (zh. 品類足論, sa. prakaraṇa): bao gồm cách xác định những thành phần được giảng dạy và sự phân loại của chúng;
7/ Phát trí luận (zh. 發智論, sa. jñānaprasthāna): xử lí những khía cạnh tâm lí của Phật pháp như Tuỳ miên (zh. 隨眠, sa. anuśaya), Trí (智, sa. jñāna), Thiền (禪, sa. dhyāna) v.v… (xem thêm Tâm sở).

6/ Thanh tịnh đạo:
Thanh tịnh đạo (zh. 清淨道, pi. visuddhi-magga), nghĩa là “con đường dẫn đến thanh tịnh”, là tên của một bộ luận cơ bản của Thượng toạ bộ (pi.theravādin), được Phật Âm (pi. buddhaghosa) soạn trong khoảng thế kỷ thứ 5. Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí của Đại tự (pi. mahāvihāra), một trong những trường phái Pali.
Bộ luận này gồm có 3 phần với 23 chương:
chương 1-2 nói về Giới (pi. sīla),
chương 3-13 nói về Định (sa., pi. samādhi)
chương 14-23 nói về Huệ (pi. pañña).
Phần nói về Định trình bày rõ các phương pháp và đối tượng quán niệm của Thượng toạ bộ, khả năng phát triển và thánh quả của các phép thiền định. Trong phần Huệ, Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí cơ bản của đạo Phật như Tứ diệu đế, Duyên khởi, Bát chính đạo...
Thanh tịnh đạo là một bộ luận tuyệt hảo, gần như là một bộ bách khoa toàn thư của Phật giáo và được rất nhiều Phật tử chú trọng đến, không phân biệt Tiểu thừa hay Đại thừa. Nhà Phật học danh tiếng châu Âu Edward Conze có lần nói rằng, nếu ông chỉ được mang theo một quyển sách ra một hòn đảo hoang vắng thì đó là quyển Thanh tịnh đạo.

7/ Quả vị tu chứng:
Thượng tọa bộ nhấn mạnh khả năng từng người tự giải thoát bằng cách kiên trì giữ giới luật và sống một cuộc đời phạm hạnh. Hình ảnh cao quý của Thượng tọa bộ là A-la-hán.
Đây là quả vị tối cao khi hành giả đã diệt hết bọn giặc phiền não, ô nhiễm; và trở thành bậc Ứng Cung (應供) là người đáng được cúng dường; hay là người đạt được Bất Sinh (不生) đoạn diệt sinh tử.
A-la-hán là danh từ chỉ một Thánh nhân, một người đã đạt cấp “vô học” (không cần phải học gì nữa, vì cái gì trên đời cũng biết) của Thánh đạo (sa. āryamārga; pi. ariyamagga), không bị ô nhiễm (sa. āśrava; pi. āsava) và Phiền não (sa. kleśa; pi. kilesa) chi phối. Một A-la-hán có khi còn sống thì dù đời là bể khổ thì vẫn ung dung, tự tại nên còn gọi là Hữu dư Niết-bàn (sa. sopadhiśeṣanirvāṇa; pi. savupadisesanibbāna), khi A-la-hán này viên tịch thì gọi là nhập Vô dư Niết bàn.
A-la-hán là hiện thân của sự giác ngộ trong thời Phật giáo nguyên thủy. Khác với hình ảnh của Bồ Tát, hiện thân của Phật giáo Đại thừa của thời hậu thế là hình ảnh được nhấn mạnh với mục đích giải thoát mọi chúng sinh. A-la-hán là các vị đã giải thoát 10 trói buộc thế gian như: ngã kiến, nghi ngờ, chấp đắm giới luật, tham, sân hận, sắc tham, vô sắc tham, kiêu mạn, hồi hộp không yên (trạo), vô minh. A-la-hán được xem là người đã từ bỏ ô nhiễm, bỏ các gánh nặng, đã đạt mục đích và tâm thức đã được giải thoát.

IV. Kết luận:
Trước đây ta thường cho rằng giáo lý Nguyên thủy là giáo lý Tiểu thừa không đưa đến quả vị tối hậu thành Phật, chỉ có giáo lý Đại thừa mới là giáo lý chân chính của Phật. Ngược lại, các nhà sư Nguyên thủy thì cho rằng giáo lý Nguyên thủy mới chính truyền là của Phật, còn giáo lý Đại thừa là ngoại đạo.v.v… Sự bất đồng quan điểm ấy đã làm băng giá mối quan hệ của hai truyền thống cả ngàn năm. Ngày nay với những phương tiện tiến bộ, mọi mặt trong xã hội đều thay đổi, những quan điểm Tiểu thừa và Đại thừa không còn thích hợp. Qua nghiên cứu cho rằng:
1. Thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy cho đến thời kỳ Bộ phái (sau Đức Phật 400 năm) chưa có danh từ Đại thừa hay Tiểu thừa. Danh từ Đại thừa và Tiểu thừa xuất hiện đồng thời với kinh điển Đại thừa khoảng thế kỷ thứ I trước hoặc sau Tây lịch.
2. Danh từ Tiểu thừa không nên hiểu là Thượng tọa bộ, mà là chỉ cho giai đoạn Bộ phái, sự tranh chấp về đường lối hành đạo mà lúc bấy giờ các Bộ phái quá chú trọng về lý luận và hình thức.
3. Ngày nay không có hệ Tiểu thừa nào có mặt trên thế giới. Năm 1950, Hội Phật Tử Thân Hữu Thế Giới (World Fellowship Buddhists) họp tại Colombo (Tích Lan) đã nhất trí quyết nghị loại bỏ danh từ Tiểu thừa khi nói đến Nam tông Phật giáo.
4. Giáo lý được phân làm hai truyền thống: Truyền thống Nguyên thủy và truyền thống Phát triển. Về mặt địa lý, truyền thừa thì gọi là Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông. Sử dụng từ ngữ Nguyên thủy và Phát triển nói lên tính xuyên suốt của cây đại thọ, giáo lý đạo Phật, mà phần gốc, rễ là Nguyên thủy; phần thân ngọn cành lá là Phát triển. Không một cây nào có thể gọi là cây khi không có gốc hay ngọn. Sự nhất quán trong hệ thống giáo lý phải được thiết lập và không ra ngoài hai hệ thống Nguyên thủy và Phát triển - cả hai bổ sung cho nhau. Những tư tưởng Phật giáo Phát triển đều phải mang tính kế thừa giáo lý Nguyên thủy, nếu không thì giáo lý Phát triển sẽ mất đi giá trị của nó.
5. Mặc dù truyền thống Nguyên thủy và Phát triển có những khác biệt, tuy nhiên, những khác biệt ấy lại có cùng chung một nét:
a/. Cả hai đều nhìn nhận Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là bậc Đạo sư.
b/. Cả hai đều chấp nhận và hành trì giáo lý Tứ thánh đế, Bát chánh đạo, Duyên khởi...; đều chấp nhận pháp ấn Khổ, Không, Vô ngã; đều chấp nhận con đường tu tập : Giới, định, tuệ.
c/. Cả hai đều từ chối về một đấng tối cao sáng tạo và ngự trị thế giới.
Tóm lại, Kinh tạng Nguyên thủy là kinh tạng ghi chép lại những lời Phật và Thánh chúng một cách đầy đủ nhất. Kinh tạng này mang tính thiết thực gần gũi với tâm lý con người và sự sinh hoạt của xã hội. Đây là cơ sở giáo lý mà chúng ta lấy làm nền tảng cho mọi nghiên cứu.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.6/9/2013.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.