Friday, 8 June 2012


Sa Di Luật Giải
SA-DI LUẬT NGHI, Yếu Lược, Tăng Chú, QuyểN Thượng.
Luật nghi của Sa -di, lời yếu lược, lời tăng chú, cuốn thượng.
Bồ-TáT GIớI, Đệ Tử, Vân Thê Tự, Sa-Môn Châu Hoằng Tập.
Thụ giới Bồ -tát, đệ tử, chùa Vân Thê, Sa-môn Châu Hoằng chép.
Bồ-Đề Tâm, Tỳ-Kheo, Đảnh Hồ Sơn, Sa-Môn Hoằng Tán Chú.
Thụ giới Bồ -đề tâm, Tỳ-kheo, núi Đảnh Hồ, Sa-môn Hoằng Tán chú giải.
-o0o-

Nay một sách “Yếu lược” nầy đây, chính tổ Vân Thê đại sư, Ngài do trong kinh Sa Di Thập Giới và các kinh khác, mà rút ra để chép thành bộ nầứy, nghĩa lý thiết yếu, mà câu văn dón gọn, để tiện cho lớp sơ cơ Sa -di tập học, rõ như xem trái “am -ma-lặc” (àmra) để trong bàn tay.
Xét ra, có ba phẩm Sa -di:
1- Từ 7 tuổi đến 13 tuổi, tên là “Khu ô Sa -di”, nghĩa là tuổi người còn trẻ con, chưa xiết tự làm việc chi được, nên chỉ khiến thay vì chúng tăng để giữ gìn lúa bắp, và các chỗ nhà ăn, nhà trù, nhà tọa thiền mà xua đuổi chim quạ, đặng có chút công thay nhọc, gồm sanh phước lành, chẳng đến đỗi ngồi không, ăn tiêu của tín thí, bỏ trống qua tấc sáng bóng của ngày giờ.
2- Từ 14 đến 19 tuổi, tên là “ứng pháp Sa -di”, nghĩa là tuổi người chính cùng tương ứng với hai pháp nầy: một, có thể phụng sự thầy, và chịu nhọc làm việc được; hai, cũng có thể tu học tham thiền, tụng kinh được.
3- Từ 20 đến 70 tuổi, tên là “Danh tự Sa -di”, nghĩa là người đã đủ hai mươi, thì lẽ ra phải thụù giới Cụ túc, nhưng, hoặc vì căn tánh ám độn, hoặc vì tuổi đã xế mới xuất gia. Bởi hai cớ đó, mà chẳng thể liền giữ đủ các giới. Thì ra, tuy tuổi tác đã lên cỡ Tỳ -kheo mà địa vị còn là lớp Sa -di, nên gọi là Danh tự Sa -di.
Với phẩm số tuy phân làm ba hạng, mà cả ba đều bẩm thụ mười giới, gồm chung làm một tên là “Pháp đồng Sa -di”.
Ngoài ra, nếu người đã cạo bỏ râu tóc, mà chẳng thụ được mười giới, thì tên là “Hình đồng Sa -di”, vì tuy đồng cái hình tướng cũng viên đảnh phương bào (đầu tròn, áo vai vuông), mà chẳng có mười giới để thâu nhiếp, tức phi dự số năm chúng, nên nay đây lại chừa Hình đồng Sa -di ra, mà chỉ thâu lấy Pháp đồng Sa -di vào năm chúng.
Tiếng Phạm Samanera (Sa-di), dịch tức từ, nghĩa là dứt dữ làm lành, tức là dứt điều nhiễm thói đời, mà thương giúp chúng sanh. Cũng gọi Cần sách, cũng rằng Cầu tịch.
Phạm ngữ ấy, nghĩa là tiếng của người Thiên Trúc, không khác với tiếng nói của trời Phạm, nên gọi là Phạm ngữ. Chính bởi thế giới Ta -bà hồi mới thành, chưa có loài người ở, đất đai còn mới, có ánh sáng suốt lên, chúng trời Phạm Quang âm Thiên ở cõi Sắc, tìm theo ánh sáng, xuống coi trái đất mới, rồi bị ăn lấy địa vị, liền mất cái phép thần túc thông và ánh quang minh của thân trời đi, nên không thể bay lên trở về trời được, thành thử ở lại làm gốc (tổ) đầu tiên của loài người, đời bấy giờ ở tại Thiên Trúc. Từ đó về sau, người ta tùy hoàn cảnh di chuyển đến mỗi địa phương khác tùy theo thủy thổ, nên tiếng nói đều khác, chỉ chính người sanh đẻ tại Thiên Trúc là còn nguyên tiếng của Phạm thiên, nên chi tiếng nói là giọng Phạm thiên, chép sách là chữ trời Phạm, ngoài ra, các quốc độ dân tộc khác đều không có thứ tiếng - chữ Phạm ấy.
Thử vân ấy, là dùng lời “tức từ” của Đông Hoa ở phương đây để phiên dịch hiệu “Sa -di” của Thiên Trúc kia. Nghĩa trên đó rút ra ở truyện Da -xá.
Rằng “dứt dữ làm lành” đó, là để giải thích rõ hai chữ “tức từ”, nhưng còn e kẻ sơ học chưa biết dứt điều dữ chi, hành việc lành gì? Nên lại dùng câu “dứt sự nhiễm thói đời, mà làm lành giúp chúng sanh” để cho rõ thêm đó.
Số là, bởi chúng phàm phu từ vô thỉ lại nay, bị cái hoặc vô minh, che mờ chân tánh dấy lên các điều vọng tưởng, vín leo theo cảnh sáu trần, tình thức đắm nhiễm vào năm dục lạc của thế gian, do thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp tạo tác ra các điều quấy lỗi, rồi đọa lạc xuống tam đồ, luân hồi sáu thú, không có ngày hẹn ra!
Đức Như Lai thương đến chúng ấy, nên chế tác ra mười giới, khiến chúng thôi dứt các điều quá ác của thân khẩu ý, để chứng được đạo thánh, nhập tịch diệt Niết -bàn.
Nhưng, với mười ác nơi thân, khẩu, ý của mình dù đã dứt thôi mà không phát cái tâm từ mẫn, thì không thể chân tu thực học pháp lục độ, để khắp giúp bốn loài, rồi phải đọa về bực Tiểu thừa thiên lệch, thế thì chưa đặng gọi là trọn lành; huống nữa đâu có thể thành bực chánh giác, tỏ tâm đại Bồ -đề. Thế nên, khiến chúng thực hành cái tâm từ tế, để tròn muôn hạnh, tiến ngay đến bửu sở, chẳng sa nơi hóa thành.
Sách chỉ quán nói: “Phải biết rằng kiếp sanh tử của chúng sanh và quả Niết -bàn của Thanh văn, đều là ác cả; Bồ-tát hành lục độ, lòng từ bi gồm giúp, đấy mới gọi là trọn lành”. Đó, với nghĩa của hai chữ “tức từ” đây gọi thế chăng?
Cũng gọi “cần sách”, cũng rằng “cầu tịch” đó, tiếng Phạm là Nirvàna (Niết-bàn), dịch Viên tịch, do vì trí đức đều đủ gọi là Viên; kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc, vô minh hoặc, tập khí, phiền não chướng, sở tri chướng, đều sạch hết, gọi là Tịch. Nghĩa là Sa -di từ khi mới phát tâm xuất gia, vâng chịu mười giới, cần phải siêng tu gắng sức, dứt hẳn các điều phiền não là ba hoặc, và tập khí, cả hai chướng đã kể trên, để cầu chứng quả mầu Niết -bàn, nên gọi là Cần sách, Cầu tịch.
Luật nghi là mười giới luật và các thiên uy nghi vậy.
Bắt đầu từ thứ nhứt là giới bất sát, đến giới thứ mười là bất tróc trì kim ngân bửu vật, gọi là mười giới luật; sau đó kể sắp ra hai mươi bốn sự, gọi là chư oai nghi.
Chú Thích
Sa-di luật nghi: Sa-di là nhân, luật nghi là pháp, Sa-di là người năng học, luật nghi là pháp sở học. Dùng cả nhân, pháp, năng, sở làm đề mục, nên rằng “Sa -di luật nghi”.
Yếu lược: Yếu, dón mà phi rộng; lược, xổi lấy phần thô đại, bỏ bớt phần phiền tế. Đấy là tổ Vân Thê, Ngài rút lấy lời kinh luật trong Đại tạng ra, chép thành bộ luật nầy, để cho kẻ mới tập học, được dón gọn dễ dàng, nên gọi rằng yếu lược.
Tăng chú: Đức Tại Tham Hoằng Tán chú thích thêm nghĩa bổ vào, để cho chỗ thiếu khuất ý nghĩa, được rõ ràng thêm.
Sa-môn: Tiếng Phạm Srmana, dịch Cần tức, nghĩa là siêng tu giới định huệ, dứt diệt tham sân si.
Bồ-tát giới: Gọi đủ là Bồ -ñeà-tát-đỏa (Bodhisattoa), dịch Giác hữu tình. Lại, Bồ-đề là trí, nghĩa, với trên thì cầu chứng đạo Phật, đó là phần tự lợi; tát-đỏa là bi, nghĩa, với dưới thì hóa độ chúng sanh, đó là lợi tha. Giới là tam tụ tịnh giới, tức là “Ba -la-ñeà-mộc-xoa”, dịch Bảo giải thoát, nghĩa là người mà hay giữ giới đây thì được đức Như Lai bảo đảm cho đặng giải thoát phiền não sanh tử, chứng giác đạo Niết -bàn.
Đệ tử: Học ở sau thầy là đệ; rõ nhờ thầy sanh là tử. Kinh Pháp Thân Tử nói “Từ miệng Phật sanh ra, từ nơi pháp hóa sanh”. Tổ Vân Thê học pháp xuất thế, lấy giới làm thầy, nguyện đồng Bồ -tát bi trí viên mãn.
Vân Thê tự: Cũng gọi Ngũ Vân Sơn. Nhân xưa có áng mây lành năm màu vần vũ trên đỉnh núi giây lâu mới tan; bấy giờ người ta lấy làm điềm lạ mà đặt tên đó, chính là chỗ đạo tràng của Tổ trung hưng, xương minh Phật giáo. Tự: Nối dõi, nghĩa: Kẻ xuất gia làm đệ tử, ở trong đó, phụng sự giáo pháp Phật tượng, ở nơi giới luật để hòa hợp, đặng mà tiếp tục nối dõi đạo Phật vậy.
Châu Hoằng: Pháp danh của Tổ là Châu[1] Hoằng, pháp tự là Phật Huệ, pháp hiệu là Liên Trì. Con nhà họ Thẫm, năm lên 17 tuổi thi đậu cử nhân, năm lên 23 tuổi, cha mẹ đều thất lộc. Nhân đó, giác ngộ thế tướng vô thường, nên xả tục xuất gia, đầu cơ nơi ngài Vô Môn Đổng - Tánh Thiên - Lý Hòa thượng, thụ giới cụ túc nơi giới đàn Địa Dũng. Sau khi phổ biến tham học, trở về cố hương, nhân thấy cảnh Vân Thê: sơn thủy u tịch, bằng dựng am tranh ở đó, dần dần thành đại tùng lâm, đạo đức khắp đồn, kẻ tri người tố, đến học chật chùa, được quốc mẫu cúng dâng y bát. Tổ sanh ngày 22 tháng Giêng, năm ất Vị, niên hiệu Gia Tĩnh (1535, nhằm năm Gia Tĩnh 14, nhà Minh bên Tầứu), thị tịch ngày 4 tháng 7 năm ất Mão (1615, nhằm năm Vạn Lịch 33, nhà Minh bên Tầu), tuổi đời 81, tuổi tăng lạp 50.
Bồ-đề tâm: Tức Bồ -đề tâm giới, mà là tên riêng của “Tam -muội-da giới”. Nghĩa là lấy cái tự tánh thanh tịnh của “Bồ -đề tâm” để làm giới tánh vậy. Thế mà người ta cắt nghĩa là phát tâm Bồ -đề là sái hẳn! Đây: Tam muội da giới, một tác pháp chỗ trao trước khi truyền pháp quán đảnh, vì nó có nghĩa chẳng trái vượt. Trong sách “Chư nghi qui quyết ảnh” nói: “Cách tu hành bên Mật giáo, trước thụ “Tam -muội-da giới”, nay tu pháp tứ độ gia hạnh rồi, trong khi truyền pháp quán đảnh, trước phải thụ Tam -muội-da giới, nghĩa là Tam -muội-da giới là lấy ba món Bồ -đề tâm làm giới vậy.”
Đảnh Hồ Sơn: Tại tỉnh Việt (Quảng Đông) có núi Đảnh Hồ, ở dưới sông Đoan, cách phủ lỵ Triệu Khánh hơn bốn mươi dặm. Cao hơn ngàn nhẫn[2], chính giữa có chùa xưa hiệu Bạch Vân; hoặc gọi là chùa Đảnh Hồ. Có hai ngọn Trung Phong Viên Tử đứng đối diện tả hữu. Các chót núi đồng hội, ba chi riêng ra, trông dường cái đảnh đứng sững. Trong hang có cái đảnh hồ, đã có sách Sơn Chí riêng biên...
Hoằng Tán: Là trú trì thứ hai chùa Đảnh Hồ, ngài Tại Tham thiền sư, pháp danh là Hoằng Tán, pháp hiệu là Tại Tham, con nhà họ Châu, ở đất Tân Hội. Cha tên là Bích Cù, có tài phẩm, thường dạo chơi nơi xứ Dương Giang, cùng thân với Lý tiến sĩ, nhân ở lại đó. Tổ là bực dĩnh ngộ, xương nơi hai bên gò má nổi cao, cặp con ngươi như sao lóng lánh, có đường lằn như hoa cúc. Đến ngày 22 tháng 5 năm Bính Dần, bảo thị giả trải tọa cụ mà ngồi. Đại chúng yêu cầu rằng: Xin Hòa thượng còn cửu trụ. Tổ bảo đem giấy bút, Tổ viết rằng: năm nay bảy mươi lăm tuổi, sanh tử như giấc mộng hôm qua, tại đây tức giải thoát, hiểu lầm đọa đến vô cùng! Viết rồi vẫn vui như thường, mà thị tịch. Ngược lại năm Tổ sanh, là năm Tân Hợi, niên hiệu Vạn Lịch, vua Thần Tôn nhà Minh (1573-1619), tuổi đời được bảy mươi lăm, tuổi hạ được năm mươi ba, tháp toàn thân tại phía hữu Khánh Vân thiền viện chùa Đảnh Hồ. Ngồi trú trì ba đạo tràng. Đệ tử đắc độ chẳng thể xiết kể, đệ tử truyền pháp thì có Huệ Cung Huýnh làm thượng thủ.
Chưởng quả: Kinh Duy Ma phẩm Đệ Tử nói: “Ta thấy cõi nước của Phật Thích -ca Mâu -ni, ba ngàn cả ngàn thế giới, như xem quả Am -ma-lặc để trong bàn tay”.
Sa-di: Cựu dịch là Sa -di; tân dịch thì khác, bộ Sức Tông Ký chép, Đường Tam Tạng nói “Thất -la-ma-noa-lạc-ca (Sràmaneraka), dịch “cần sách nam”, do vì đại tăng mà phải cần gia gắng sức”. Truyện Ký Qui nói: “Thất -la-mạt-ni-la”, dịch là cầu tịch, rằng: “Muốn cầu đến chỗ Niết -bàn viên tịch. Cựu dịch rằng “Sa -di” đó, lời thiếu mà tiếng sai! Còn dịch nghĩa là Tức từ đó, thì ý sơ mà vô căn cứ!
Sa-di Ni: Sràmanerikà (tân dịch: Thất-la-ma-noa--ca), dịch nghĩa là Cần sách nữ, tiếng “lý” là nữ tánh (trên kia tiếng “lạc” là nam tánh) cựu dịch: Sa-di Ni là sai. Bên Nhật Bản, người có vợ con, hay chồng con, mà chỉ xuống tóc và râu để tu hành đó, gọi là Sa -di...
Năm dục: 1- Tài dục: Tham muốn tiền tài.
2- Sắc dục: Tham muốn sắc đẹp.
3- Danh dục: Tham muốn danh vọng.
4- Thực dục: Tham muốn thức ăn cho ngon.
5- Thùy dục: Tham muốn chỗ ngủ cho sang.
Sáu trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là sáu cảnh trần, bởi đối tượng với căn là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; rồi sáu thức rước sáu trần vào thân làm ô nhiễm tịnh tâm, nên gọi là trần. Nghĩa là sáu trần nó làm nhiễm ô thức tình, nên gọi chung là trần.
Vô minh: Tiếng Phạm Avidya (A-vỉ-nễ), nghĩa là cái tâm bị ám độn không cái huệ sáng để soi rõ cả sự và lý của các pháp, tức là cái tên riêng của si mê, nên gọi là vô minh.
Niết-bàn: Dịch diệt độ, nghĩa là với cái đại hoạn, đã vĩnh viễn diệt rồi mà siêu độ qua bốn lưu: 1- Tham dục lưu. 2- Chấp hữu lưu. 3- Kiến tư hoặc lưu. 4- Vô minh lưu.
Tiểu thừa thiên lệch: Sau khi thành đạo, Phật thuyết pháp trong mười hai năm đầu, đối với pháp nói trong thời gian đó, nhà Đại thừa cho là “thiên tiểu”, nghĩa là cái lý sở thuyết ấy, nó thiên lệch về bên không, mà pháp môn đó, nó nhỏ hẹp lắm, vì chỉ tự độ lấy một mình mình thôi.
Bảo sở: Đức Như Lai, ban sơ mở ra nói ba thừa, để rõ nhứt thực đến hội Pháp Hoa, bỏ tam thừa quyền pháp, lập nhứt thừa thực pháp, nghĩa là bực Nhị thừa dứt rồi kiến hoặc, tư hoặc, ra ngoài tam giới, lại còn phải dứt trần sa hoặc, vô minh hoặc, để cầu chứng lên cực quả vô thượng giác, thì “quả Phật vô thượng” đó, gọi là “bảo sở”. Sách Chỉ – Quán nói: “Với đạo phẩm như thế, đi ngay tới bảo sở”.
Hóa thành: Hóa thành (Thí Dụ) là đức Như Lai dùng phương tiện giáo hóa Nhị thừa, để họ dứt kiến hoặc, tư hoặc, khiến cho tạm quyền chứng cái pháp chân không Niết -bàn, chỗ Niết -bàn đó gọi là Hóa thành. Giới sớ nhứt chỉ nói: ? với độn tánh, dẫn lấy cái quả báo thế gian, tạm quyền chỉ ra cảnh hóa thành với lợi tánh, chỉ lấy cái huệ giúp nên, đến ngay chốn bảo sở.
Thiện, bất thiện, sanh tử, Niết-bàn đều ác: Bực Nhị thừa đã lìa được các khổ của tam giới, nên gọi là thiện; song, chỉ mới tự độ, chứ chưa độ tha, nên cũng gọi là ác. Vì đắm nơi không, ưa nơi vắng, để tự vui lấy một mình mình thôi, kêu bằng “Niết -bàn tử”! Đại luận bảo: “Thà khởi cái tâm niệm làm con dã hán bị bệnh lác, chứ chẳng sanh cái ý muốn làm Thanh văn, Duyên giác. Nên nói “Sanh tử của lục phàm, Niết-bàn tử của tứ quả đều ác”. Đại thừa Bồ -tát lòng từ bi phổ độ, rõ sanh tử tức Niết -bàn, biết phiền não tức Bồ -ñeà, lấy việc lợi tha làm kỷ nhậm (trách nhiệm mình), đó mới tức là toàn thiện.
Kiến hoặc, tư hoặc: Kiến hoặc là sự nhận thấy mê lầm. Như đối với đạo lý, ý thức sanh ra các điều vọng kiến, phân biệt so đo tà vạy, rồi khởi lên cái ngã kiến, biên kiến, cả các điều vọng hoặc. Tư hoặc là ý thức khởi lên các điều mê tình, như tham lam, sân khuể, si mê, để lo nghĩ những sự vật giữa thế gian, mà sanh ra lắm điều vọng. Do kiến hoặc là mê nơi vô thường, vô ngã các đạo lý chân đế, mà khởi lên thường kiến, ngã kiến các tà tưởng. Còn tư hoặc là mê nơi: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp các sự vật giữa thế gian, mà khởi lên tham dục, sân khuể các vọng tình. Đó, mê nơi lý, mê nơi sự mà phát ra kiến hoặc, tư hoặc.
Trần sa hoặc: Là cái hoặc của các thánh bị ở ngoài tam giới, đấy không phải là cái hoặc của tự mình, mà chỉ nhân cái hoặc của kẻ khác làm chướng ngại sự hóa đạo của mình đó thôi. Nghĩa là đã đắc quả A -la-hán, tự thấy kiến tư hoặc của mình đã dứt, tự tâm chân trí sáng suốt, thấy được kiến tư hoặc của người khác nhiều như vi trần, như hà sa, mà sanh tâm thối lui, bỏ cái ý hóa đạo, vào giữ lấy cảnh chân không Niết -bàn.
Vô minh hoặc: Tự tâm không sáng hiểu, gọi là vô minh, lại tên căn bản vô minh. Cũng tên là ngã si, vì ngu nơi cái tướng của ngã, mà mê nơi cái lý vô ngã, thể của vô minh hoặc nầy cực kỳ vi tế, Bồ-tát phá trần sa hoặc rồi, tiến lên bực Đẳng giác, khởi cái Kim cương quán trí, để phá một phần sau tướng vô minh (rốt sau) sạch hết rồi, mới chứng lên quả Vô Thượng Diệu Giác.
THIÊN TRƯỚC MÔN GIỚI LUẬT
Nguyên tổ Vân Thê, Ngài chép bộ luật yếu lược đây, lối hành văn chia ra làm thượng thiên và hạ thiên. Nay ta bắt đầu giải thích vềừ thượng thiên là môn giới luật.
Thiên tức là giản thiên (thẻ tre, cuốn sách), lại, thiên là khắp vậy, nghĩa là rõ lý bày sự, minh bạch mà phổ biến ra.
Giới là điều cấm giới, luật tức pháp luật. Giới đồng tên với luật mà với nghĩa thì có khác chút đỉnh. Như ngừa quấy dứt dữ là Giới, còn xử đoán tội khinh tội trọng, điều mở cho, điều ngăn cấm, sự trì giới, sự phạm giới, thì gọi rằng Luật.
Môn nghĩa là năng thông qua, nghĩa là từ giới bất sát đến cả mười giới pháp, đồng kể thông qua một môn giới luật. Với môn nầy, cả thánh chúng giữa tam thừa, đều bước vào đi thông qua, để đạt đến thành Niết -bàn. Thế biết rằng mười giới đây, hẳn là thềm thang của chúng ra khỏi thế gian, mà cũng là do nơi cửa giới luật đây để tiến tới cảnh giới Niết -bàn.
Phật chế luật: Kẻ xuất gia, với năm hạ trước phải chuyên cần học cho tinh thông giới luật, với năm hạ sau mới cho nghe giáo nghĩa và học pháp tham thiền.
Đây, nói rõ thứ lớp của ba pháp học vô lậu là Giới, Định và Huệ. Nếu học mà vượt qua thứ lớp đó, thì, Định và Huệ không do đâu phát sinh ra được.
Phật là tiếng tôn xưng của Đại giác đức Thích -ca Như Lai. Như Lai, Ngài giáng sanh tại Trung Thiên Trúc, nước Ca -tỳ-la-vệ, trong cung vua Tịnh -phạn, sanh vào lúc rạng sáng ngày 8 tháng 4 năm Giáp Dần, nhằm năm 24 triều Chiêu Vương nhà Châu Trung Quốc; năm lên mười chín tuổi, vượt thành xuất gia, đến năm ba mươi tuổi thành đạo; diệt độ vào ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Thân, nhằm năm 53 triều Mục Vương đời Châu.
Với thời gian bốn mươi chín năm, Phật thuyết pháp, để giáo hóa cả thánh chúng ba thừa; Phật ngài chế thư ra các giới luật, khiến các thầy Tỳ -kheo với năm hạ trước, phải nương nơi bổn sư để học bộ luật, nhẫn đến một đêm chẳng được rời thầy ở riêng. Đến chừng học đã thông suốt tạng luật rồi, thì với năm hạ sau, mới cho tập học giáo nghĩa và tham thiền, tụng kinh.
Trên đó là nói về lớp “Tân học Tỳ -kheo”, còn nếu là “lớp Sa -di” thì còn phải trọn đời y chỉ nơi bổn sư, phi luận số năm hạ trước hay năm hạ sau, ghi rõ như trong bộ Đại Luật đã dạy. Dù rằng là việc (năm hạ trước chuyên học luật) của Tỳ -kheo, nhưng Sa -di chẳng thể chẳng biết đến.
Rằng “chế” ấy, ý nói đức Như Lai là ngôi Pháp Vương, đã tự tại giải thoát giữa vạn pháp, biết cùng tận cả nghiệp tánh của chúng sanh, nên chế sách ra các giới luật, khiến các đệ tử, phải tuân y phụng hành theo thì mới có thể giải thoát được sanh tử của lục phàm. Vậy, phi các thánh Thanh văn, Bồ-tát kia, xiết làm được việc chế luật nầy đâu!
Tỷ như lễ nhạc của thế pháp (đời quân chủ), phi thiên tử, thì không chế sắc được; với Hồng qui của pháp xuất thế, phi Phật thì chẳng lập đặng! Thế biết rằng Luật, chính đức Như Lai đích chế, từ các thánh Thanh văn, Bồ-tát thì chỉ noi theo thuật lại mà thôi, chứ chẳng chế tác được, thành thử từ Văn -Thù nhẫn xuống, chẳng cho bớt hay để một lời, ưu-ba-ly kết tập tạng luật chẳng dám dài rộng thêm một chữ. Từ giữa cõi người đến trên cõi trời, các Thánh nhiều đến vô số vô biên, chỉ đồng một luật, chung cùng vâng giữ. Thế nên chúng ta phải đặc biệt tôn trọng!
Rằng xuất gia đó, có hai hạng
1- Cắt tình ái, từ nghĩa thân, bỏ nhà tục, vào nhà đạo, cạo râu tóc, nhuộm áo nạp, gọi là ra khỏi nơi nhà thế tục (sự xuất gia).
2- Dứt bỏ điều vọng hoặc (kiến hoặc, tư hoặc), chứng quả vô sanh, gọi là ra khỏi nhà tam giới (lý xuất gia), mới thực là xuất gia. Nên kinh Tịnh Danh nói “Xét, kẻ xuất gia, là vì pháp vô vi” thực thế.
Rằng “hạ” ấy, nghĩa là người xuất gia đã vượt khỏi tục lệ rồi chẳng còn dùng theo năm của đời để làm tuổi nữa; nên với ba tháng mùa hạ siêng năng, gia công gắng tiến, hoặc thêm pháp tam học, hoặc chứng quả tứ thánh, do nơi công học tu đó, mà tưởng thưởng thêm đức hạnh, nên chịu cái danh tuổi hạ, tức là lấy ngày rằm tháng bảy làm ngày lạp trừ, tức cũng như ngày trừ tịch là ngày ba mươi tháng chạp của thế gian vậy.
Rằng “chuyên tinh” đó, chuyên nghĩa là trọn một việc học luật, chứ không xen các thứ học khác, tinh là xem câu văn hiểu rõ nghĩa mới hết lẽ tối nhiệm. Nên khiến đối trong năm hạ (sau khi mới thụ giới Cụ túc) cần phải nghiên cứu luật Tỳ -ni (bộ Đại Luật), hầu khéo thạo cả sự khai, sự giá, điều trì, điều phạm, và danh, chủng, tánh tướng của các giới.
Đại luật nói “Dẫu đã đắc tam minh, lục thông, mà năm hạ chưa đầy đủ, còn phải y chỉ sát bên bổn sư; còn như năm hạ dù đã đủ mà chẳng biết các trường hợp khai, giá, tánh, chế thì cũng còn phải trọn đời nương ở bên Bổn sư.”
Bởi thế, ngài Đạo Tuyên luật sư, với mười pháp tịch, đều thân đến nghe học mãi luật Tỳ -ni, ông Huệ Hưu pháp sư trọn đời chỉ học bộ luật. Thế, chúng ta là người hạng nào, mà liền toan thôi học luật và xa Bổn sư?
Chừng nào đã thông tột tạng luật, năm hạ giáp đủ, mới cho nghe học giáo nghĩa và tập pháp tham thiền.
Thính: theo thầy chịu cái sự nghiệp học tu. Giáo: là đối với pháp của Như Lai thuyết ra bốn mươi chín năm đó, phân làm mười hai phần (mười hai bộ kinh). Số là chúng sanh bị bịnh đã chẳng một chứng, mà pháp dược bố thí có nhiều phương. Nên với cả giáo pháp từ bộ, từ loại, mở ra làm mười hai phần.
1- Phần khế kinh: Tức là những văn trường hàng trong các kinh chỉ nói ngay một bài dài, thế nên nói là trường hàng.
2- Phần trùng tụng: Phàm trong các kinh, những bài mà trùng tuyên lại nghĩa của văn trường hàng đó, thì gọi là trùng tụng.
3- Phần thụ ký: Vì các chúng đệ tử, mà đức Như Lai trao lời ghi cho qua đời sau được thành Phật.
4- Phần Già -ñaø: Tức là những bài kệ tụng trong các kinh.
5- Phần vô vấn tự thuyết: Không người thưa hỏi chi hết, mà được Phật ngài xem xét theo căn cơ của chúng sanh, rồi tự Ngài nói pháp ra.
6- Phần nhân duyên: Tức trong các kinh, luật, chỗ mà Phật ngài nhân nơi cái duyên do của người khởi sự, mà Ngài vì thuyết pháp ra.
7- Phần bổn sanh: Phật ngài nói về chỗ gốc tích xưa của các vị Bồ -tát đã tu hành, từng làm những sự chi.
8- Phần bổn sự: Phật nói về sự tích đời trước của các hàng Thanh văn đệ tử, đã tu hành như thế nào.
9- Phần phương đẳng, cũng gọi là phương quảng: Các kinh điển của Đại thừa, nghĩa lý rộng lớn, cái lượng đồng với cõi hư không.
10- Phần hi hữu: Trong các kinh, những chỗ mà Phật nói về pháp rất ít có công đức. Nghĩa là: Với công đức ấy, ít người có được.
11- Phần thí dụ: Phật vì thuyết pháp cho chúng sanh căn tánh chậm lụt, phải mượn lời nói thí dụ, để chỉ rõ ra.
12- Phần luận nghĩa: Đối với các lời hỏi, Phật ngài đáp lại, giảng rộng nghĩa ra, thực thế.
Rằng “Thiền” ấy Pháp môn nầy có nhiều đến vô lượng, dón lại mà nói, thì, duy chỉ hai môn nầy: 1- Tu quán, 2- Trực chỉ. Nay đây nói chữ “Tham” đó, tức là môn “Trực chỉ thiền”, nghĩa là chỉ ngay cái tâm của người, để người được thấy tánh thành Phật vậy.
Luật Tư Trì dẫn lời luật Thập Tụng nói “Phật chế luật dạy rằng: Các Tỳ -kheo! Năm hạ trước, chuyên môn học bộ luật cho tinh thông, như đã định được việc trì giới, việc phạm giới, biện biệt được việc Tỳ -kheo, nhiên hậu mới cho học đến tạng kinh, tạng luận”.
Đời nay, người mới thụ giới cụ túc, đã vượt bỏ lớp học luật, thế, việc học hành đã mất thứ tự, thì không do đâu chứng ngộ vào đạo quả, đức Đại thánh quở trách, người mà như thế phi học trò của Phật rồi!
Thời đại ngày nay, người vừa mới thụ giới (Sa-di, Tỳ-kheo chẳng hạn) liền bèn nghe giáo nghĩa (kinh luận) học tham thiền, thế, làm nhà tăng mà với tế hạnh, uy nghi, không hiểu được một điều nào!
Huống lại, có người khinh lướt giới kiểm, chê bai tạng Tỳ -ni, biếm nhẻ cho người học luật là Tiểu thừa, khi dể kẻ trì giới là chấp tướng. Chưa tột ý Phật, hiểu lầm chơn thừa.
Vả lại với giới ắt có thể khinh được, ngươi sao lên giới đàn mà thụ? Với luật ắt có thể hủy được, ngươi sao xuống tóc nhuộm áo pháp? Thế thì, khinh giới đó, toàn là tự khinh, hủy luật đó, lại là tự hủy. Vọng tình dễ quen, chí đạo khó thông, nên chi, với hạng, “khỏi tục vượt bầy”, vạn người xuất gia, không được một! Thôi, xin rõ lời Phật dạy, thì ai lại không thể không theo ư?
Thế nên, người mới xuống tóc làm Sa -di, trước phải thụ lãnh mười giới, sau thì lên giới đàn thụ giới Cụ -túc. Mà nay được cái danh là Sa -di, là do cái gốc thụ mười giới. Đứa ngu lù mù chẳng biết, kẻ cuồng khinh dể chẳng học, liền toan vượt bực, mơ tính cao xa, cũng khá thương vậy!
“Thế nên” ấy, là vâng văn trên, dấy văn dưới. Nghĩa là ba pháp học vô lậu (giới, định, huệ), lấy luật nghi làm đầu, xuất gia năm chúng, dùng mười giới làm trước. Nên với người mới xuống râu tóc, liền khiến phải vâng chịu mười giới để tu, do phạm hạnh (tịnh hạnh) không kém, sau mới cho lên đàn truyền giới để thụ cụ túc.
“Đàn” tức trường truyền giới. Với trường ấy, chúng tăng đều chung vâng pháp “bạch tứ yết ma” mà thành được giới thể; nếu phi có trường ấy, thì không do đâu để đắc giới.
“Cụ” là giới Cụ túc, nghĩa là thụ lãnh giới Tỳ -kheo, kể có 250 điều cấm, tức là liền đủ cái nhân tốt quả Niết -bàn. cũng gọi là Cận viên, viên tức là viên tịch, nghĩa là Đại giới đây, cùng với quả Niết -bàn cách nhau chẳng bao xa nữa.
“Nay đắc cái danh là Sa-di, là do cái gốc chỗ thụ mười giới đó”, ấy là trương nơi “bổn”, mà đặng nơi “danh”, do bổn thụ mười giới, mà nay được cái danh Sa -di. Danh đã do bổn, thì nên phải tập học giữ gìn. Nếu mà chẳng học chẳng giữ, là do có hai hạng người, 1- ngu, 2- cuồng. Bởi ngu không có con mắt huệ, nên chẳng soi xét điều thị điều phi, thành thử đối với các giới tướng, lù mù chẳng biết; cuồng vọng tà kiến, chẳng noi theo ngôi thứ, nên với lời thánh chế của Như Lai, khinh dễ mà chẳng học.
“Liền toan vượt bực” đự, vượt, nhảy vọt qua vậy. Bực là cấp bực. Thiên Học Ký nói “Đứa trẻ nghe mà chẳng hỏi, học chẳng vượt bực”. Vì là trẻ con, đã biết gì đâu mà hỏi mà bực! Chứ đã xuất gia nếu chẳng tuân theo ngôi thứ, liền muốn nhảy vọt để tiến tới, chính chỗ người ta bảo rằng: Sớm mai mới được cái đầu tròn, đến chiều vượt lên bực đại tăng, thực thế!
Đấy, bởi kiến thức điên cuồng, chẳng biết thứ tự của giới phẩm pháp tướng, nên mới quấy toan nhảy vọt, muốn bằng bực với tiên triết.
Như kinh Bách Dụ nói “Xưa có một người ngu, thấy ngôi nhà của phú hộ kia, ba tầng lầu gác, cao rộng rực rỡ; y liền về nhà, kêu thợ mộc đến, bảo tạo một nóc lầu tầng thứ ba như tầng rốt trên của phú hộ kia. Thợ hỏi:
- Làm gì có cái lẽ chẳng tạo tầng rốt dưới, mà có thể tạo được tầng thứ hai? Chẳng tạo tầng thứ hai, mà có thể tạo được tầng thứ ba?
Người ngu vẫn nói:
- Ta không cần dùng hai tầng dưới, vậy thợ ắt vì ta chỉ tạo tác một nóc lầu tầng rốt trên đó thôi.
Nhân sĩ đương thời nghe biết như thế, bèn sanh lòng chê quái gỡ.
Ví như bốn chúng đệ tử của Phật, chẳng siêng tu kính Tam Tôn, biếng nhác trễ nãi, mà lại muốn cầu chứng đạo quả, vả chẳng muốn ba quả dưới, mà lại chỉ muốn cho được “Vô sanh quả” thứ tư, thế cũng bị thời nhân xì cười, như người ngu kia đồng một thứ không khác.
Người học Phật, nếu chẳng y theo thứ lớp ba thừa, mà trước học Đại thừa đó, cũng lại như người ngu kia!
Kinh Phật Tạng nói “Người mà chẳng học Tiểu thừa trước, mà học Đại thừa trước, thì phi đệ tử của Phật.”
Nay đây, chẳng học luật Sa -di, mà muốn đặng giới Cụ -túc, chẳng giữ giới thanh tịnh, mà muốn đắc đốn ngộ, thì cũng có khác gì với người ngu kia ư!?
“Mơ tính cao xa, cũng khá thương” đó, mơ tính là bộ dạng không biết, nghĩa là mờ tối không biết rằng mơ tính, quấy bằng bực tiên triết rằng cao xa. Xét, cao là chỉ về giới Tỳ -kheo, xa là chỉ về giới Bồ -tát, thương là lời xót than. Lại, cao xa cũng là chỗ sở chứng của Phật Tổ.
Bởi điên cuồng chê học, nên mất sáng suốt; do mất sáng suốt, nên không chỗ biết; do không chỗ biết, nên chẳng biết giáo,, hạnh, quả là lớp lang của tam học (giới định huệ). Quấy vọt lên cao xa để sánh đồng với Phật Tổ, thực khá cảm thương! Nên nói “diệc khả khái hỷ”.
Nhân dùng mười giới, dón giải vài lời.
Dón mà phi rộng, nên nói là vài lời.
Khiến kẻ mông học biết chỗ hướng phương.
Người mới vào đạo, nên rằng mông học (lớp học đồng mông). Do vì thương chúng cuồng ngu, chưa hiểu giới pháp, nên đối với trong kinh Sa Di Luật Nghi, ngài Vân Thê sao lục lấy mười giới, vì sơ lược giải thích, răn bảo kẻ chưa nghe kia, lìa khỏi cái khổ không biết; khiến người mới vào nhà đạo, có chỗ để tâm, nên nói là hướng phương.
Đại Luận nói “Cả ba đường ác, chúng sanh ở địa ngục, thân bị đốt cháy; chúng sanh ở bàng sanh, như lạc đà, lừa, ngựa, thì bị chở nặng; chúng sanh ở ngạ quỉ, thì bị đói khát, đều chưa đáng gọi là khổ, chỉ có người mà ngây tối không nghe hiểu gì cả, chẳng biết phương hướng mới đáng gọi là khổ hơn hết!” Thực thế.
Người mà hảo tâm xuất gia, lòng rất vâng làm, dè dặt chớ trái phạm.
Chẳng bị uy lực của nhà vua ép bức, chẳng vì lòng tà tham cầu để sống thân mạng, chẳng vì lánh tai nạn, chẳng vì trốn nợ nần, nghĩa là không vì các điều trên mà đi tu; mà chính vốn vì hi cầu chánh pháp, đem lòng thành tín, tiến vào pháp môn, nên nói là “hảo tâm xuất gia”.
Nếu đã vì thoát ly đường sanh tử, chịu giữ điều cấm giới, nên mới có thể hết lòng vâng giữ phụng hành. Vì “giới” là tỷ như cái đãy nổi vượt qua bể khổ; cũng là cái chuỗi ngọc anh lạc để trang nghiêm pháp thân; nên cần phải gìn dè, chớ cho có chỗ kém phạm một hào một li nào.
Nhiên hậu, với gần thì mười giới đây làm thềm thang cho giới Tỳ -kheo, với xa nó cũng làm căn bản cho giới Bồ -tát.
Nhiên hậu là do đoạn trên xuống đoạn dưới, nghĩa là mười giới, nó là thềm thang lên giới Tỳ -kheo, và làm gốc rễ cho giới Bồ -tát. Dường nhà ba lớp từng, nên rằng “thềm thang”, như đầu cây bối -đa-la (cây thốt lốt) nên nói “gốc cội”. Giới Sa -di gần lớp giới Tỳ -kheo, gọi đó là “gần”, còn cách giới Bồ -tát, gọi đó là “xa”. Nếu cấp nhứt bị hư rồi, thì bước kế đó khó làm. Cũng như cội gốc một phen kém rồi, thì nhánh lá bông trái, thảy đều rụng đổ!
Nên kinh nói “Nếu phá một giới trọng nào giữa năm giới, trở lại chịu năm giới khác, nhẫn đến thụ giới Bồ -tát, không có luật nào cho thế; hoặc phạm một giới trọng nào trong mười giới, trở lại thụ mười giới khác nữa, nhẫn đến thụ Tỳ -kheo giới, Bồ-tát giới, cũng không chỗ nào có lẽ đó.
Tâm nhân giữ giới sanh định, nhân định phát huệ, ngõ hầu trọn nên thánh đạo, mới chẳng uổng chí xuất gia.
Ngõ hầu lời rằng gần được. Do vì giữ được thanh tịnh, mà cái định tánh nó hiện tiền thì có cái huệ vô lậu phát minh ra, lấy cái huệ đó để xét tìm, dứt các điều hoặc chướng (3 chướng 4 hoặc) đem cái bổn tánh tịnh minh trở lại, nên nói là “trọn nên thánh đạo”. Đấy là ba học giới, định, huệ giúp nhau, như cái đảnh có ba chân, nên có thể trọn nên thánh đạo.
Thánh đạo tức là quả thánh của tam thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Người xuất gia vốn cầu lên quả thánh, mà nhờ ba học được phần tăng thượng, thì cách với thánh đạo chẳng xa, nên với cái chí xuất gia chẳng uổng vậy.
Đàm Nhất luật sư nói “Với cả Phật pháp ba đời, chỉ “giới” làm căn bổn, mà với căn bổn đó không lo tu, thì xa cách với thánh đạo lắm ru!
Nếu ưa rộng xem, thì phải tự xét trọn bộ sách trong tạng luật.
ưa: muốn; xem: coi; xét là kiểm duyệt, xem cho khắp vậy.
“Trọn bộ sách trong tạng luật” tức là “Sa-di thập giới pháp” cùng là “Uy nghi”… Còn nay đây là bộ “Yếu lược”, vì để tiện cho kẻ sơ tấn tập học, hầu biết cái thô tướng của trì giới, phạm giới mà thôi; còn ai muốn biết hết giới vi tế để hành trì, thì tự mình phải rộng xét trọn bộ Đại Luật.
Mười giới sau đây, rút ra ở kinh Sa -di Thập Giới, Phật bảo Xá -lợi-phất vì nói truyền cho La -hầu-la-đa.
Mười giới sau ấy, là bắt đầu từ giới “Bất sát sanh”, đến giới thứ mười là “Bất tróc trì sanh tượng”, thực thế.
Rằng “Rút ra ở kinh Sa -di Thập Giới” đó, là rõ phi đức Vân Thê Ngài đem lời trong hung ức mà nói ra, và cũng phi rút nơi các kinh khác.
Phật tức là đức Thích -ca Như Lai. Chữ “sắc” bảo, như chế thư mạng lịnh của thiên tử. Phật ngài làm vị Pháp vương, nên chế ra giới luật, khiến ông Xá -lợi-phất vì nói mười giới đây để truyền trao cho ông La -hầu-la-đa.
Tiếng Phạm là Sariputra (-lợi), dịch: thân, cũng dịch rằng thu. Chữ “phất” nghĩa như chữ “tử” là con, thân phụ tên là Đề -, làm chủ Luận sư, dòng Bà -la-môn, nước Thiên Trúc. Thân mẫu tên Xá -lợi, có cái thân hình tốt đẹp, mắt bà sáng như mắt chim thu (loại thủy điểu, giống con hạc), theo tên mẹ mà chịu xưng hô, nên tên là Xá -lợi Tử, nghĩa là con bà Xá -lợi. Theo Phật xuất gia, chứng quả vô sanh, giữa chúng đệ tử Phật, ông được số đặc biệt là “trí huệ đệ nhứt”.
La-hầu-la, dịch phúc chướng (úp che), cũng rằng “chấp nhựt” (che mặt nhựt), con của Phật hồi còn làm thái tử; khi sanh ông gặp lúc thần A -tu-la lấy tay che mặt nhựt, nhân đó đặt tên là Chấp Nhựt. Thuở Phật còn làm thái tử, thưa vua cha đi xuất gia. Phụ vương không bằng lòng mà hứa rằng “Chớ dứt con nối của nước ta, nếu chừng nào thái tử có con, cha mới cho thái tử xuất gia”.
Thái tử liền lấy tay chỉ vào bụng của Da -thu-ñaø-la phu nhân mà giới thiệu, thì vua mới biết dâu đã có thai. ở trong thai sáu năm mới sanh, nhân đó cũng tên là Phúc Chướng.
Tuổi đã khôn lớn, Phật bèn độ cho xuất gia, sắc mạng cho ông Xá -lợi-phất vì nói mười giới, mà Phật chẳng vì làm Hòa thượng, hay A--lê đó, là do giữa Tam Bảo có riêng ngôi. Nghĩa là đức Như Lai là ngôi Phật bảo, nên chẳng cùng người vì làm Hòa thượng; Hòa thượng là ngôi Tăng bảo; mười giới pháp là ngôi Pháp bảo. Nên Phật sắc mạng cho Xá -lợi-phất vì làm Hòa thượng, là để cho ngôi Tam Bảo không lộn xộn với nhau. Người xuất gia giữa chúng Sa -di, thì La-hầu-la là trước nhứt.
Kinh Vị Tằng Hữu nói “La -hầu-la (Rahula) năm lên chín tuổi, xuất gia làm Sa -di,-lợi-phất làm Hòa thượng, Đại-mục-kiền-liên làm A --, để cùng trao mười giới.
Sau khi La-hầu-la xuất gia, chưa đầy ba năm, bà Da -thu-ñaø-la cũng xả tục đi xuất gia.
Chú Thích
Giản thiên: Giản: điệp, thẻ bằng tre, xưa chưa có giấy, chép chữ vào thẻ tre, gọi là giản trác. Thiên: phàm văn tự đầu đuôi đủ ý nghĩa, gọi là một thiên, như sách Luận Ngữ 20 thiên; một thiên, như ngày nay gọi một quyển. Kinh Thi 300 thiên; một thiên, như nay gọi là một bài vậy.
Khai: mở ra, cho làm; giá: ngăn lại, chẳng cho đi tới; trì: giữ làm mãi; phạm: phạm đến phép cấm; danh: tức danh tự, là tên của mỗi giới phẩm; chủng: tức là chủng loại, như 5 thiên 7 tụ tánh: tức là gốc của giới tánh; tướng: tức là hành tướng của giới thể. Đủ có các điều chế theo mỗi trường hợp trên, rõ như Đại luật.
Giai: thềm, từng bực lên nền nhà; thê: thang, như tầng nấc thang lên lầu, nấc thang lên cây.
Ngũ hạ: Trong luật Phật dạy các vị Tỳ -kheo, từ 15 tháng tư, đến hợp một chỗ, kết hạ an cư, đến rằm tháng 7 giải chế ra hạ, gọi làm hạ lạp, tức là chịu một tuổi hạ. Đó là tuổi giới lạp của Tỳ -kheo, còn Sa -di thì chỉ tòng sự đại tăng mà thôi, chứ chưa được xưng hạ lạp.
Tam minh: ở nơi Phật, gọi là tam đạt, ở nơi A -la-hán, gọi là tam minh, có cái trí biết các pháp rõ ràng, nên gọi là minh. 1- Túc mạng minh: biết cái tướng sanh tử từ đời trước của thân mình và thân người. 2- Thiên nhãn minh: biết cái tướng sanh tử về đời sau của tự thân, tha thân. 3- Lậu tận minh: có trí biết khổ tướng đời hiện tại mà dứt tất cả phiền não.
Hỏi: Giữa sáu thông, ba cái kia sao chẳng gọi là minh?
Đáp: Thân như ý (thân cảnh thông) chỉ hay về công xảo; thiên nhĩ thông, chỉ hay về nghe tiếng; tha tâm thông, chỉ biết về cái tâm niệm của người khác; nên ba pháp trên đây, chẳng ghi là minh. Còn ba pháp kia sở dĩ ghi là minh đó, là thiên nhãn minh, thì biết cái khổ vị lai; túc mạng minh thì biết cái khổ quá khứ; đều hay nhàm lìa sanh tử. Lại, lậu tận minh hay làm chánh quán mà dứt phiền não.
Khai giá tánh chế: khai giá đã giải ở trên. Tánh tức là tánh tội, như sát, đạo, dâm, vọng. Bốn điều đây tự tánh người tạo ra tội, nên gọi là tánh tội; còn các giới sáu, bảy về sau là những điều bên ngoài làm ra tội nên Phật chế cấm, không cho người tham nhiễm đến, nên gọi là chế tội.
Năm chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, Thức-xoa-ma-na ni, Sa-di, Sa-di Ni là xuất gia ngũ chúng vậy.
Bĩnh pháp Yết -ma: Dịch tác pháp biện sự, làm phép phân việc. Nghĩa là cả các pháp sự, đều do Yết -ma đây mà biện thành. Yết -ma có bốn pháp: 1- Pháp: chính cái tác pháp cử hành. 2- Sự: hoặc sự phạm tội, hoặc sự sám hối, các việc chia ra làm của Yết -ma. 3- Nhân: đến làm pháp Yết -ma mà định số người. 4- Giới: là kiết giới làm Yết -ma.
Tứ bối đệ tử: tức tứ chúng Tỳ -kheo, Tỳ-kheo Ni, ưu--tắc, ưu--di.
Xuy tiếu: xì cười, là cười bằng cách xì hơi nơi lỗ mũi, chưa phì cười ra tiếng nơi miệng.
Giáo, hạnh,, quả: Giáo: 12 phần giáo cả Đại, Tiểu thừa; hạnh: lục độ, vạn hạnh, mỗi mỗi diệu nhân;: tâm đủ vạn pháp, tự tánh tròn sáng; quả: tròn chứng quả vị.
Ñaø-: còn gọi thác -ñaø, con lừa. Thác -đà trạng giống ngựa, đầu giống dê, cổ dài, tai xủ xuống, lưng có nhục yên nổi cao, chở nặng mới chịu đi, một ngày đi ba trăm dặm, chở nặng ngàn cân. Lừa hình giống ngựa, cổ dài, trán rộng, đuôi dài, cũng chịu chở nặng.
Phù-nang: đãy nổi, hoặc dùng da bơm hơi cho đầy, hoặc dùng bằng cái bầu, ống tre... là đồ để nương nổi lội qua sông biển.
Hào ly: 10 ty là 1 hào; 10 hào là 1 ly; 10 ly là 1 hộc.
Bối-đa-la (Sala): cây thốt lốt, tương tự cây kè; cây thốt lốt nếu bị chặt đứt, không còn nảy chồi sống nữa, cũng như cây cau, đứt ngọn thì chết. Trong luật Phật tỷ dụ: nếu phạm đến một giới nào của bốn giới ba -la-di, thì giới thân chết rồi không sống được nữa, tỷ như cây đa -la bị chặt đứt...
Da-thu-ñaø-la (Yacôdhara): Kinh Tỳ -ni Mẫu chép: Da-thu-ñaø-la, dịch Liên Hoa Sắc, vợ của thái tử Sĩ -đạt-ta. Kiếp trước bà làm vị thần ở núi Tu -di, tên là Thiện Nhạo Hoa, có chí nguyện thâm trọng yêu Phật và nguyện đời đời hễ Phật giáng sanh, khi còn làm thái tử thì bà làm vợ, khi xuất gia thành Phật, thì bà cũng xuất gia làm Tỳ -kheo Ni...
A--(Acarya): Cựu dịch A --, tân dịch A -cha-lợi-dạ. Dịch nghĩa là Quỹ phạm chính hạnh, tức là kiểm chính lại hành vi của các đệ tử. Lại dịch là Quỹ phạm sư, là hay làm cách thức để dạy các đệ tử.

[1] Nguyên pháp danh của Tổ là “Thù Hoằng” tức chữ Thù là chữ thứ mười hai trong bài kệ của dòng Qui Ngưỡng, xin lục ra dưới đây:
“Sùng phước phát đức huệ
Văn Thù quảng đại trí
Phổ Hiền hạnh nguyện thâm
Thành đẳng chánh giác quả”.
Nay dưới hội Vân Thê đều dùng bài kệ trên để cho pháp danh tiếp dõi một hệ thống, kêu là “Thượng hữu sư chứng, hạ hữu sư truyền”, chứ chẳng phải như ai kia bỏ mất dòng dõi của Thầy Tổ!
Nguyên Tổ nghĩ: Vua nhà Minh là họ Châu (châu: đỏ), bên chữ châu chớ nên thêm chữ ác (bộ ác), hiệp với chữ châu đỏ, thành chữ thù, nên đổi bộ ác thay bộ y (áo) vào thành chữ châu (châu: áo đỏ), nên gọi là Châu Hoằng.
Đó là Tổ, Ngài thận trọng đối với vua đương thời nhà Minh, thì có thể gọi Châu Hoằng được; chứ ngày nay đời Minh đã qua rồi, huống nữa ta là người Việt Nam thì cứ do theo pháp phái, mà viết và đọc là Thù Hoằng cho đúng, chớ còn quý kính vua nhà Minh bên Tầu chi nữa!?HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH.MHDT.9/6/2012.

THẬP GIỚI CỦA SA-DI .


Bài này soạn vào thời Đông Tấn của Trung Hoa, khoảng năm 400 theo Dương lịch. Soạn giả là một vị tăng không biết tên. Tuy trong lễ thọ giới vị thầy truyền giới chỉ nêu đại lược, nhưng người xuất gia phải được học kỹ về Mười giới để có thể giữ theo không sai phạm. Bài này giúp hiểu rõ thêm về Mười giới.

1. Sa-di trọn đời không được giết hại người hoặc thú vật. Hãy tưởng đến lòng yêu thương của cha mẹ và quyến thuộc của người bị hại. Nhớ đến ơn dạy dỗ của thầy và bạn hữu, phải tinh tấn tu hành, cứu độ cho cha mẹ. Phải thận trọng đừng gây hại cho người khác, vì sự ác hại ấy rồi sẽ trở lại hại mình. Thậm chí không làm hại đến cả những con vật nhỏ bé, hết thảy các loài động vật. Hãy làm mọi việc lành, cứu giúp kẻ đói khổ, khiến cho hết thảy đều được an ổn. Lòng nghĩ đến người khác nên không thể giết hại. Nếu nhìn thấy, nghe biết hoặc nghi ngờ sự giết hại một con thú là vì mình thì không thể ăn thịt con thú ấy. Thấy sự giết hại, nên khởi lòng từ, phát thệ nguyện rằng: “Khi tôi thành đạo, nguyện cho trong cõi nước không có sự giết hại.” Cho đến cây cỏ mà không cần dùng đến cũng không vô cớ làm hại. Không được giữ các thứ khí giới như gươm đao, cây gậy, vật sắc nhọn... Không được nuôi dưỡng súc vật, chim chóc để ăn thịt. Không dùng các thứ cung tên, đạn bắn để săn bắt muông thú. Không được nổi lửa gây cháy rừng núi, làm hại đến sanh linh. Không tháo cạn nước ao, hồ hoặc ngăn đường nước đến, hoặc dùng các loại câu, lưới, chài... để đánh bắt, giết hại các loài sống trong nước. Không khai khẩn những nơi rừng núi, đầm lầy để làm ruộng rẫy, trồng trọt ngũ cốc. Phạm vào giới này chẳng còn là sa-di nữa.

2. Sa-di trọn đời không được phạm tội trộm cắp. Chớ tham của người, cho đến vật nhỏ nhặt cũng vậy. Hãy giữ lòng công bằng chánh trực, miệng không nói lời khuyến khích sự trộm cắp. Không được mua bán, thuê mướn nô bộc. Như có người mang đến cho cũng không nhận lấy. Thường vì người khác giảng thuyết về đức không tham lam. Thà bị chặt tay, nhất định không trộm lấy đồ trái phép. Phạm vào giới này chẳng còn là sa-di nữa.

3. Sa-di trọn đời không được cưới vợ, sanh con. Phải tránh xa nữ sắc, kiềm chế lục dục. Không nhìn ngắm gái đẹp, tâm không nghĩ đến việc dâm dục, miệng không nói những lời dâm ô. Không gần gũi những kẻ lẳng lơ, không nghe những lời ngọt ngào khêu gợi. Sa-di nam và nữ phải cư trú ở nơi riêng biệt, không được tìm gặp nhau, không được ngồi cùng thuyền, đi cùng xe. Trên đường gặp nhau không được trao đổi chuyện trò. Không được mượn cớ để đi lại gặp gỡ nhau. Không được thư từ qua lại cho nhau. Không được trao đổi y phục, như người khác phái có cho cũng không được nhận. Như cần gặp nhau, phải có người lớn tuổi chứng kiến, thận trọng chẳng nên đi một mình. Không được ngồi chung hoặc ngủ đêm trong một phòng. Thà tan xương nát thịt cũng không để vướng vào sự dâm dục. Thà là chết trong sạch còn hơn là sống mà phạm giới này. Phạm vào giới này chẳng còn là sa-di nữa.

4. Sa-di trọn đời lấy sự thành tín làm căn bản, không nói lời đâm thọc, lời hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói dối, không nói lời tà vạy. Có chỉ chỗ sai trái của người cũng phải nói một cách trầm tỉnh và đủ chứng cớ. Chẳng chê bai chỗ yếu kém của người khác. Khi thuyết pháp, phải nói cho đúng lý. Thấy người tranh cãi, hãy vô tư đứng giữa mà giải hòa. Phàm trong việc xử thế, dao sắc nằm ngay trong miệng người. Sát hại đến thân thể cũng là do lời ác độc. Nói năng không thận trọng chẳng còn là sa-di nữa.

5. Sa-di trọn đời không được uống rượu. Cho đến không nếm thử, ngửi mùi của rượu. Không bán rượu, không uống thuốc ngâm rượu, không ghé vào quán rượu. Rượu là chất độc, là nguyên nhân của những sự bại hoại, làm cho kẻ hiền phải suy sụp, bậc thánh phải hư hỏng, mang đến các tai ương. Dùng nó thì xa điều lành, gần điều dữ. Thà là uống nước đồng sôi còn hơn là phạm vào việc uống rượu. Phạm vào giới này chẳng còn là sa-di nữa.

6. Sa-di không được dùng các loại hoa, hương thơm, dầu thơm, phấn sáp trang điểm trên thân thể. Mặc che thân là đủ, không tham đắm vào hình thức. Ăn lấy no là đủ, không tham đắm mùi vị. Không nên đi xe, đi ngựa, đi kiệu vì muốn thỏa sự ham thích, vì sự khoái trá của tâm ý. Phạm vào giới này chẳng còn là sa-di nữa.

7. Sa-di trọn đời không được ca, múa, diễn trò... hoặc dự xem người khác ca, múa, diễn trò... Không được chơi âm nhạc, các thứ đàn, sáo, nhạc cụ... làm cho tâm đạo dễ rối loạn. Không được tham gia bất cứ hình thức cờ bạc nào để tranh thắng bại cầu vui, hoặc tranh mối lợi với người khác. Phạm vào giới này chẳng còn là sa-di nữa.

8. Sa-di không được nằm giường cao rộng, chăn nệm tốt, có màn che sáo phủ. Không được dùng gối nệm có kết vàng bạc cùng các thứ lụa là, gấm vóc. Không dùng chiếu đẹp, quạt sơn, phất đủ màu và đồ chưng diện điểm trang. Không học theo các việc đoán thời vận, bói toán, trù ếm, phù phép, xem ngày tháng tốt xấu, xem mu rùa và lá cây để bói xem thời vận may rủi, nghèo giàu, xem tinh tú nhât thực, nguyệt thực, các hiện tượng lở núi, động đất... Không tham gia quốc sự, thuế vụ, binh cơ. Phạm vào giới này chẳng còn là sa-di nữa.

9. Sa-di trọn đời không được ăn phi thời. Từ quá ngọ cho đến bữa sau, không được để đồ ăn vào miệng. Như có muốn đi đâu xa cũng không được ăn thêm. Đã ăn rồi mà có người mời ăn nữa, dù là người có quyền thế, cũng phải từ chối. Phạm vào giới này chẳng còn là sa-di nữa.

10. Sa-di trọn đời không nắm giữ các thứ tiền, vàng bạc, đồ quý giá. Không tàng trữ lương thực, các thứ quý giá. Như có người mang cho cũng đừng nhận. Nếu như có nhận thì không phải để cất giữ, mà là để phân phát cho người nghèo khó.

Ngoài mười giới nói trên, vị sa-di trọn đời còn phải thận trọng trong việc giao du, xử thế. Không được làm bạn với những kẻ kém đức. Không giao thiệp với người làm những công việc bán thịt, đi săn, ăn trộm, uống rượu, vì như vậy chỉ làm tổn hại đến đạo hạnh của mình thôi. Áo cà-sa và bình bát lúc nào cũng giữ bên thân mình. Ngoài giờ thì không ăn, chẳng phải việc đạo pháp thì không nói. Trong khi đang ăn hoặc nằm nghỉ đều không trò chuyện. Chuyên cần suy nghĩ tìm hiểu ý nghĩa những điều đã học, nhớ việc cũ mà suy biết việc hiện nay. Có khi được ngồi xuống liền lo việc tham thiền, đứng dậy liền nhớ việc đọc kinh. Giữ được giới hạnh nhất nhất như vậy mới thật là đệ tử của Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH.MHDT.9/6/2012.

Mục lục

Lời giới thiệu
Chương một: Phật Bảo
[1.01] Lược sử đức Phật
[1.02] Ðức Phật trong Nam Tạng và Bắc Tạng
[1.03] Ðức tướng và Ðức tánh của Thế Tôn
[1.04] Tuệ giác của Thế Tôn
[1.05] Phật - Niết-bàn - Thành đạo
[1.06] Các tinh thần giáo dục của Thế Tôn và sự liên hệ giữa Ngài với các hàng đệ tử, Chư thiên, Ác ma và ngoại đạo
Chương hai: Pháp Bảo
[2.01] Duyên khởi và Vô ngã
[2.02] Ngũ uẩn và Vô ngã
[2.03] Tứ Thánh Ðế
[2.04] Nhân quả
[2.05] Nghiệp và nghiệp báo
[2.06] Luân hồi
[2.07] Sáu giới - Mười hai xứ - Mười tám giới
[2.08] Giới học
[2.09] Bát Thánh Ðạo
[2.10] Thất Giác Chi
[2.11] Ngũ căn và Ngũ lực
[2.12] Tứ như ý túc
[2.13] Tứ chánh cần
[2.14] Tứ niệm xứ
[2.15] Chánh và tà pháp - Thiện và bất thiện - Thuyết pháp - Nghe pháp - Sống theo pháp và hành theo pháp
Chương ba: Tăng Bảo
[3.01] Ðời sống của chư Tăng
[3.02] Liên hệ giữa chư Tăng và cư sĩ
[3.03] Quả vị Sa-môn
[3.04] Ngũ minh
-ooOoo-



Lời Giới Thiệu


Nói đến Phật giáo là nói đến Phật, Pháp, Tăng. Phật, Pháp, Tăng tổng hợp lại thành một Phật giáo hoàn chỉnh. Vì vậy, nếu hiểu rõ Phật, Pháp, Tăng là hiểu rõ toàn bộ Phật giáo.

Thế nào là Phật? - Phật tâm, Phật tánh, Phật nguyện, Phật hạnh, Phật trí, Phật đức, Phật thân, Phật độ..., đó là Phật.

Thế nào là Pháp? - Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Vô ngã, Nhân quả, Nghiệp báo, Luân hồi, Lục độ, Thập độ, Pháp tướng...; đó là Pháp.

Thế nào là Tăng? - Chí nguyện của Tăng, Giới luật của Tăng, Sinh hoạt của Tăng, Bổn phận của Tăng...; đó là Tăng.

Cùng ý kiến trên, Thượng tọa Thích Chơn Thiện đã trình bày Phật học qua nội dung Tam Bảo trong tập sách này với ba chương lớn: Phật, Pháp, Tăng.

Căn cứ trên các Kinh Nikàya và A-hàm với một phần ý nghĩa rút ra từ Kinh điển Bắc truyền, Thượng tọa đã trình bày Phật học một cách mạch lạc, rõ ràng, nhằm giới thiệu được nội dung cơ bản của Phật-học, đồng thời cũng gợi lên những đường hướng tư duy sâu sắc và đúng đắn để có thể phù hợp với nhiều đối tượng độc giả. Một đặc điểm khác nữa của tác phẩm là nêu được tính thực tiễn của Pháp áp dụng vào các ngõ ngách chính yếu. Thượng tọa còn chỉ ra cách ứng dụng Tứ đế vào đời sống cá nhân, gia đình, xã hội, khiến người học giáo pháp hiểu rằng không phải chỉ thông thạo giáo lý là đủ mà điều quan trọng nhất là phải thực hành được ngay trong cuộc sống hàng ngày.

Vốn là một giảng sư của trường Cao cấp Phật học Việt Nam và của nhiều khóa Phật học ở nhiều nơi trong nước, Thượng tọa Thích Chơn Thiện đã là soạn giả, dịch giả của nhiều tác phẩm Phật học có giá trị. Tôi nghĩ rằng cuốn Phật Học Khái luận này phản ảnh một quá trình tu học nghiêm túc, một niềm tin tưởng sâu đậm đối với Phật giáo và một tấm lòng tha thiết khuyến tu đối với hết thảy mọi người; do đó, tôi trân trọng giới thiệu tác phẩm này cùng chư độc giả./.

Từ Ðàm, mùa an cư PL. 2537
Hòa thượng Thích Thiện Siêu .
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH.( MHDT ).8/6/2012.

Wednesday, 6 June 2012

Qui Sơn Cảnh Sách Văn


Qui Sơn Cảnh Sách Văn
Qui Sơn Cảnh Sách Văn

QUI SƠN CẢNH SÁCH VĂN

Thiền Sư Qui Sơn Linh Hựu


--- o0o ---

Bài văn này được thiền sư Quy Sơn Linh Hựu viết ra nhằm sách tấn việc tu học của đồ chúng, nên gọi là văn cảnh sách, và lấy tên ngài để làm tựa. Từ xưa nay vẫn gọi là “Quy Sơn cảnh sách văn”.
Mặc dù đã ra đời từ hơn ngàn năm qua nhưng bài văn vẫn còn được truyền tụng, nhờ vào nội dung vô cùng sâu sắc, thâm áo và văn chương súc tích, lưu loát. Không những thế, đây còn là một áng văn rất được trân trọng trong chốn thiền môn, hầu như bất cứ ai khi mới bước chân vào con đường tu học cũng đều phải học thuộc nằm lòng.
Tuy khá ngắn gọn, nhưng tính hàm súc của văn chương đã cho phép bài văn nêu lên rất trọn vẹn chủ đề muốn nói. Bằng một cách diễn đạt gây nhiều xúc cảm thay vì là răn đe, quở trách, những lời khuyên dạy của Tổ sư thật gần gũi và thân thiết, khiến người nghe không khỏi rung động trong lòng.
Hơn thế nữa, cấu trúc văn từ cũng hết sức hoàn chỉnh, âm vận hài hoà, vừa đọc lên đã có thể cảm nhận được phần nào ý văn qua âm điệu. Quả thật là một áng văn trác tuyệt xưa nay ít có.
Với mong muốn giới thiệu cùng quý độc giả một bản văn hay trong văn chương Phật giáo, cũng là để nhắc nhở cho nhau nghe những lời răn dạy của bậc Tổ sư ngày trước, nên chúng tôi không nệ chỗ học kém cỏi, cố gắng chuyển dịch bản văn này sang tiếng Việt để nhiều người có thể dễ dàng tìm đọc.
Ngoài ra, chúng tôi cũng giới thiệu đôi nét về hành trạng của Tổ Quy Sơn – người đã sáng lập ra tông Quy Ngưỡng, một trong các tông phái quan trọng của Thiền Trung Hoa. Qua đó, chúng ta có thể hiểu thêm về giá trị và bối cảnh ra đời của tác phẩm.
Đồng thời, nhằm giúp cho những ai chưa quen thuộc lắm với chữ Hán cũng có thể sử dụng được phần nguyên tác để hiểu sâu hơn nội dung bản văn, chúng tôi cũng biên soạn thêm phần Tham khảo chữ Hán.
Do sở học có giới hạn, chúng tôi biết chắc sẽ không sao tránh khỏi ít nhiều sai sót khi thực hiện công việc này. Tuy nhiên, với tâm nguyện mong muốn cho hết thảy mọi người đều được lợi lạc nhờ nơi sự giáo hóa của chư Phật Tổ, chúng tôi mong rằng sẽ nhận được sự tha thứ, chỉ dạy từ các bậc tôn túc và quý độc giả xa gần.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH.( MHDT ).7/6/2012.